Quyết định 141/QĐ-BYT Ban hành "Kế hoạch phối hợp giữa công tác Phòng, chống HIV/AIDS và Phòng, chống bệnh Lao, giai đoạn 2021-2025"
12-01-2021
12-01-2021
- Trang chủ
- Văn bản
- 141/QĐ-BYT
- TẢI VỀ
- THUỘC TÍNH
Bộ Y tế Số: 141/QĐ-BYT |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Hà Nội, ngày 12 tháng 01 năm 2021 |
Quyết định
VỀ VIỆC BAN HÀNH “KẾ HOẠCH PHỐI HỢP GIỮA CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS VÀ PHÒNG, CHỐNG BỆNH LAO, GIAI ĐOẠN 2021-2025”
Căn cứ Nghị định số 75/2017/NĐ-CP ngày 20/6/2017 của Chính phủ quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục phòng,
chống HIV/AIDS,
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này bản “Kế hoạch phối hợp giữa công tác Phòng, chống HIV/AIDS và Phòng, chống bệnh lao, giai đoạn 2021- 2025”.
Nơi nhận:
- Như Điều 3;
- Bộ trưởng (để báo cáo);
- Các Thứ trưởng (để phối hợp chỉ đạo);
- Lưu: VT, AIDS (2).
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Đỗ Xuân Tuyên
THỨ TRƯỞNG
Đỗ Xuân Tuyên
BỘ Y
TẾ ____
| CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM ________________________
|
KẾ
HOẠCH
Phối
hợp giữa công tác Phòng, chống HIV/AIDS và Phòng, chống bệnh lao, giai đoạn
2021-2025
(Ban
hành kèm theo Quyết định số141/QĐ-BYT ngày 12 tháng 01
năm 2021 của Bộ trưởng Bộ y
tế)
__________________
Phần l
KẾT
QUẢ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP GIỮA CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS VÀ PHÒNG CHỐNG BỆNH
LAOGIAI ĐOẠN 2016 - 2020
Bệnh lao là bệnh nhiễm trùng cơ hội
gây tử vong hàng đầu ở người nhiễm HIV và đồng thời HIV là yếu tố nguy cơ cao
nhất đối với sự tiến triển bệnh lao ở những người nhiễm vi khuẩn lao mới hoặc
tiềm ẩn. Việt Nam hiện vẫn là nước có gánh nặng bệnh lao cao, đứng thứ 11 trong
30 nước có số người bệnh lao cao nhất trên toàn cầu. Chiến lược quốc gia về
phòng, chống lao và Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV đều hướng đến mục tiêu
kết thúc bệnh lao và chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm
2030.
Trong giai đoạn 5 năm (từ
2016-2020) thực hiện Quyết định số 2495/QĐ-BYT ngày 18/7/2012 của Bộ trưởng Bộ
Y tế về việc ban hành hướng dẫn phát hiện tích cực bệnh Lao và điều trị dự
phòng lao (còn gọi là điều trị lao tiềm ẩn) bằng Isoniazid (INH) ở người nhiễm HIV, Quyết định số 2496/QĐ-BYT ngày
18/7/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành quy chế phối hợp giữa chương
trình mục tiêu quốc gia phòng, chống HIV/AIDS và dự án phòng, chống bệnh lao
thuộc chương trình mục tiêu quốc gia y tế, công tác phối hợp HIV/lao đã đạt
được những kết quả đánh ghi nhận, đồng thời có những thách thức sau:
I. Xây
dựng các văn bản, hướng dẫn về phối hợp HIV/lao
Quyết định số 5456/QĐ-BYT ngày
20/11/2019 của Bộ Y tế về việc ban hành Hướng dẫn điều trị và chăm sóc
HIV/AIDS.
Quyết định số 5418/QĐ-BYT ngày
01/12/2017 của Bộ Y tế về việc ban hành Hướng dẫn quản lý điều trị và chăm sóc
HIV/AIDS.
Quyết định số 773/QĐ-BYT ngày
08/3/2017 của Bộ Y tế ban hành Kế hoạch phối hợp giữa công tác Phòng, chống
HIV/AIDS và Phòng, chống lao, giai đoạn 2016-2020.
Quyết định số 1313/QĐ-BYT ngày
24/3/2020 của Bộ Y tế về việc ban hành Hướng dẫn phát hiện và điều trị lao tiềm
ẩn.
Quyết định số 1314/QĐ-BYT ngày 24/3/2020
của Bộ Y tế về việc ban hành Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và dự phòng bệnh
lao.
II. Thiết
lập và tăng cường cơ chế phối hợp lồng ghép các dịch vụ HIV và lao
1. Kiện toàn Ban điều phối HIV/lao
tại các tuyến
Thực hiện kiện toàn Ban điều phối
HlV/lao với Thứ trưởng Bộ Y tế là Trưởng ban điều phối, Phó trưởng ban là Lãnh
đạo Cục Phòng, chống HIV/AIDS, Chương trình chống lao Quốc gia, Cục Quarn lý
Khám, chữa bệnh và các thành viên có liên quan. 63/63 tỉnh/thành phố đã thành
lập Ban điều phối HIV/lao và triển khai thực hiện, tổ chức thực hiện giao ban
2-4 lần/năm. Xây dựng quy chế phối hợp giữa Chương trình phòng, chống HIV và Dự
án phòng, chống lao từ tuyến Trung ương tới tuyến huyện và xã.
2. Xây dựng kế hoạch chung lồng
ghép các dịch vụ chăm sóc điều trị lao và HIV tại các cơ sở phòng, chống lao và
HIV
Cục Phòng, chống AIDS và Dự án Phòng, chống lao quốc gia
đã phối hợp xây dựng các văn bản pháp lý nhằm thúc đẩy hợp tác giữa 2 chương
trình ở các tuyến, bao gồm: chỉnh sửa và áp dụng gói 12 chính sách theo khuyến
nghị của WHO, hướng dẫn
quốc gia về phát hiện tích cực bệnh lao dựa trên sàng lọc 4 triệu chứng lâm
sàng, ưu tiên chỉ định xét nghiệm Xpert MTB/Rif hoặc Ultra cho người nhiễm HIV nghi lao và
điều trị lao tiềm ẩn bằng Isoniazid (INH) và
các phác đồ điều trị lao tiềm ẩn ngắn hạn ở người nhiễm HIV theo khuyến cáo của Tổ chức Y
tế Thế giới. Những hướng dẫn này đã được triển khai và mở rộng với nguồn ngân
sách của quốc gia và các nhà tài trợ như PEPFAR
và Dự án Quỹ toàn cầu.
Thực hiện các Quyết định số
2495/QĐ-BYT, 2496/ QĐ-BYT ngày 18/7/2012, Quyết định số 3957/QĐ-BYT ngày
23/9/2015 và Quyết định số 773/QĐ-BYT ngày 08/3/2017 liên quan đến các hoạt
động phối hợp lao/HIV từ Trung ương tới tuyến tỉnh, tuyến huyện và xã. Đây là
cơ sở pháp lý để các địa phương có thể tăng cường hơn nữa chất lượng cung cấp
dịch vụ và giảm chi phí quản lý và điều trị bệnh nhân Lao/HIV, hướng tới cung
cấp dịch vụ Lao/HIV tại cùng một cơ sở y tế. Đến nay mô hình lồng ghép Lao/HIV
và phối hợp chuyển tiếp bệnh nhân giữa các cơ sở cung cấp dịch vụ Lao và dịch
vụ HIV được thực hiện tại tất cả các tỉnh, thành phố. Hàng năm đều tổ chức giao
ban phối hợp Lao/HIV cho hàng trăm đại biểu của các tỉnh, thành phố, giao ban
lồng ghép HIV/Lao tuyến huyện được thực hiện thường xuyên tại tất cả các quận
huyện trong cả nước.
3. Giám sát và đánh giá các hoạt
động phối hợp HIV/lao
Mở rộng các hoạt động tư vấn và xét
nghiệm HIV cho bệnh nhân Lao, năm 2012 mới có 35 phòng tư vấn xét nghiệm HIV
tại các cơ sở phòng, chống lao, tư vấn và xét nghiệm cho 15.000 người thì đến
năm 2018, con số này là 225 cơ sở và xét nghiệm cho 86.977 người. Trong năm
2019, có 103.815 bệnh nhân lao được phát hiện, số được xét nghiệm sàng lọc HIV
là 89.110 chiếm 85,8%, số có kết quả HIV dương tính: 2967 chiếm 3,3%, tỷ lệ được
điều trị ARV các thể chiếm 2346/ 2967 = 79%. Cùng với việc tăng cường phát hiện
bệnh lao ở người nhiễm HIV có dấu hiệu nghi lao bằng xét nghiệm Xpert MTB/Rif,
toàn quốc có khoảng 3.000 người mắc Lao nhiễm HIV được báo cáo hàng năm. Nguồn
nhân lực về Lao/HlV được quan tâm đào tạo, nâng cao năng lực, chỉ riêng năm
2018 đã đào tạo về phát hiện và quản lý, điều trị bệnh nhân lao HIV cho 300 học
viên là y bác sỹ tổ lao tuyến huyện/thị; tổ chức 03 lớp đào tạo về phối hợp
lao/HIV cho 90 học viên là y, bác sỹ làm công tác chống lao của 09 tỉnh; tổ
chức 03 lớp đào tạo về kiểm soát nhiễm khuẩn lao cho 90 y, bác sỹ công tác ở
các phòng khám lồng ghép về lao/HIV của 09 tỉnh; tổ chức 03 lớp đào tạo về chăm
sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân lao/HlV cho 90 học viên là y, bác sỹ làm công tác
chống lao của 09 tỉnh; tổ chức 03 lớp đào tạo về phát hiện, chăm sóc và quản lý
bệnh nhân lao/HIV cho 91 y, bác sỹ làm công tác chống lao của 09 tỉnh.
Phối hợp với chương tình Lao thống
kê dữ liệu giám sát bệnh nhân lao/HIV trên phần mềm Vitimes tại các tỉnh, thành
phố. Các hoạt động ưu tiên can thiệp dự phòng, chẩn đoán và điều trị HIV và
bệnh lao bao gồm:
Các
hoạt động ưu tiên can thiệp dự phòng, chẩn đoán và điều trị HIV + bệnh lao ở
Việt Nam |
1. Dự
phòng • Chẩn
đoán HIV sớm • ART kịp thời • Điều
trị lao tiềm ẩn • Kiểm
soát lây nhiễm | 2. Sàng
lọc và chẩn đoán • Phát
hiện lao tích cực ở người HIV • Xpert
phát hiện lao ở người có HIV • XN HIV
ở bệnh nhân lao | 3. Điều
trị • Điều
trị thuốc ARV + điều trị lao |
4.
Lồng ghép liên kết các dịch vụ |
III. Giảm
gánh nặng lao trên người nhiễm HIV
1. Phát hiện chủ động lao trên người
nhiễm HIV
Phát hiện chủ động lao bằng cách
sàng lọc triệu chứng nghi lao trên người nhiễm HIV bằng bộ câu hỏi với 4 triệu
chứng (sốt, ho, sụt cân, ra mồ hôi đêm đối với người lớn hoặc có tiếp xúc với
người bệnh lao đối với trẻ em), chuyển gửi người nhiễm HIV nghi lao đến các cơ
sở phòng, chống lao để được khám và phát hiện lao đã được triển khai thường quy
tại tất cả các cơ sở điều trị và chăm sóc HIV. Chương trình phòng, chống lao
quốc gia coi người nhiễm HIV là một trong những đối tượng ưu tiên được làm xét
nghiệm Xpert MTB/Rif để phát hiện sớm bệnh lao.
2. Điều trị lao tiềm ẩn cho người
nhiễm HIV
Hiện nay 100% cơ sở điều trị
HIV/AIDS thực hiện sàng lọc lao và điều trị lao tiềm ẩn khi người nhiễm HIV đủ
điều kiện. Tỷ lệ người nhiễm HIV được sàng lọc lao trong lần khám gần nhất đạt
96.7% năm 2019.
Đến tháng 8/2020, tỷ lệ bệnh nhân
điều trị ARV đủ tiêu chuẩn điều trị lao tiềm ẩn đã hoàn thành liệu trình điều
trị lao tiềm ẩn (270 liều INH đối với người lớn và 180 liều INH đối với trẻ em)
đạt 66,2%, tỷ lệ bệnh nhân điều trị ARV đang điều trị lao tiềm ẩn là 10,7%, còn
23,1% bệnh nhân điều trị ARV chưa được điều trị lao tiềm ẩn cần được tiếp tục
đưa vào điều trị trong thời gian tới.
3. Kiểm soát lây nhiễm lao tại các
cơ sở điều trị HIV/AIDS
Ban điều phối HlV/lao Trung ương
xây dựng văn bản, tổ chức tập huấn phối hợp HIV/lao cho các tỉnh trong đó có
nội dung về kiểm soát lây nhiễm lao tại các cơ sở điều trị HIV/AIDS.
Các cơ sở điều trị HIV/AIDS thực
hiện xây dựng kế hoạch kiểm soát nhiễm khuẩn tại cơ sở, phân công cán bộ chịu
trách nhiệm. Thực hiện các biện pháp phòng lây nhiễm lao cho cán bộ y tế và lây
nhiễm chéo như: Sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân cho nhân viên y tế; Phân
luồng bệnh nhân; Khu vực chờ và nơi khám bệnh thông khí tốt.
4. Sử dụng kỹ thuật Xpert để chẩn
đoán mắc lao cho người nhiễm HIV
Thực hiện kỹ thuật Xpert để chẩn
đoán mắc lao trên người nhiễm HIV nghi mắc lao.
Tỷ lệ người nhiễm HIV nghi lao được
thực hiện xét nghiệm Xpert để chẩn đoán mắc lao:
Năm | TSBN xét nghiệm | TB(-) | % | TB(+) | % | TB(+)/ R(-) | % | TB(+)/ R(+) | % | Lỗi | % |
2017 | 5160 | 4603 | 89.2 | 467 | 9.05 | 413 | 8.0 | 54 | 1.04 | 90 | 1.74 |
2018 | 4278 | 3629 | 84.8 | 586 | 13.6 | 508 | 11.8 | 78 | 1.82 | 63 | 1.47 |
IV. Giảm
gánh nặng HIV trên người bệnh lao
1. Sàng lọc HIV cho người bệnh lao
Thực hiện dịch vụ xét nghiệm HIV
cho người bệnh lao và người nghi lao ở tất cả các cơ sở tổ lao tuyến huyện.
Trong năm 2019, có 103.815 bệnh
nhân lao được phát hiện, số được xét nghiệm sàng lọc HIV là 89.110 chiếm 85,8%,
số có kết quả HIV dương tính khẳng định: 2967 chiếm 3,3%, tỷ lệ được điều trị
ARV các thể chiếm 2346/ 2967 = 79%.
2. Can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV
và điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội bằng
Cotrimoxazole
Thực hiện dự phòng lây nhiễm HIV
như cung cấp bơm kim tiêm, bao cao su, ... cho những bệnh nhân lao có nguy cơ
cao nhiễm HIV như: nghiện chích ma túy, gái mại dâm, nam quan hệ tình dục đồng
giới. Điều trị sớm ARV và tuân thủ điều trị ARV để duy trì tải lượng HIV dưới
ngưỡng ức chế, tăng cường hệ miễn dịch giúp người bệnh sống khỏe, giảm khả năng
lây truyền HIV. Tất cả người bệnh đồng nhiễm HlV/lao phải được điều trị dự
phòng nhiễm trùng cơ hội bằng Cotrimoxazole theo
hướng dẫn của Bộ Y tế.
V. Điều
trị đồng thời cả HIV và lao
Hầu hết người nhiễm HIV đang quản
lý tại cơ sở điều trị HIV được chẩn đoán mắc lao đều được điều trị đồng thời cả
HIV và lao. Tỷ lệ bệnh nhân đồng nhiễm Lao/HIV được điều trị đồng thời cả Lao
và HIV từ 2016-2019 đạt 70-88,5%
VI. Triển
khai các mô hình
Ngày 06/11/2017 Bộ Y tế ban hành
Quyết định số 5015/QĐ-BYT về triển khai Hướng dẫn lồng ghép quản lý, cung cấp
dịch vụ HIV và lao tại tuyến huyện, xã, kết quả đến hết năm 2019:
- Có 27
tỉnh đang triển khai mô hình phối hợp HIV/lao tại tuyến huyện
- Kết quả
đánh giá 12 tỉnh triển khai thí điểm mô hình phối hợp HIV/lao tuyến huyện:
Người bệnh được điều trị lao, điều trị ARV sớm hơn, giảm bị mất dấu bệnh nhân.
Giảm một nửa số phòng chức năng dành cho lao và HIV. Tỷ lệ duy trì điều trị sau
12 tháng chiếm tỷ lệ cao từ 92-100%. Thời gian để chẩn đoán phát hiện mắc lao
cho người nhiễm HIV giảm từ 8 ngày xuống 5 ngày. Giảm số lần đi lại từ nhà đến
cơ sở điều trị để được chẩn đoán lao và bắt đầu đưa vào điều trị giảm (từ 2,8
lần xuống 2,2 lần)
Phần
II
KẾ
HOẠCH PHỐI HỢP GIỨA CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS VÀ PHÒNG CHỐNG LAO, GIAI
ĐOẠN 2021-2025
Giai đoạn 2021-2025 là giai đoạn
bản nề trong việc thực hiện Chiến lược quốc gia chấm dứt dịch bệnh AIDS vào năm 2030 cùng như Chiến lược
quốc gia chấm dứt dịch bệnh lao vào năm 2030. Trong đó đến năm 2025, cần đạt
các mục tiêu như: 90% người nhiễm HIV biết tình trạng nhiễm HIV, 90% người
nhiễm HIV được điều trị ARV và 95% người điều trị ARV có tải lượng vi rút dưới
ngưỡng ức chế, 95% người mắc lao được tư vấn xét nghiệm HIV, 92% người đồng
nhiễm lao/HIV được điều trị đồng thời cả lao và ARV,...Nguồn ngân sách viện trợ
từ các tổ chức quốc tế bị cắt giảm mạnh, điều trị và chăm sóc HIV/AIDS, điều
trị lao đã được Chính phủ chí đạo chuyển đổi từ sử dụng kinh phí viện trợ sang
sử dụng ngân sách trong nước thông qua Quỹ bảo hiểm y tế (BHYT). Bộ Y tế đã ban
hành các Thông tư hướng dẫn thực hiện khám chữa bệnh qua BHYT cho người nhiễm
HIV, cho bệnh nhân lao như: Thông tư số 27/2018/TT-BYT ngày 26/10/2018 hướng
dẫn thực hiện bảo hiểm y tế và khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế liên quan đến
HIV/AIDS: Thông tư số 28/2018/TT-BYT ngày 26/10/2018 quy định về quản lý điều
trị người nhiễm HIV,
người phơi nhiễm với HIV tại các cơ sở y tế; Thông tư số 22/2020/TT-BYT ngày
02/12/2020 quy định về quản lý thuốc kháng HIV được mua sắm tập trung cấp quốc
gia sử dụng nguồn quỹ bảo hiểm y tế và hỗ trợ chi phí cùng chi trả đối với
thuốc kháng HIV cho người nhiễm HIV có thẻ bảo hiểm y tế; Thông tư số
04/2016/TT-BYT ngày 26/02/2016 Quy định về khám, chữa bệnh và thanh toán chi
phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế liên quan đến khám bệnh, chữa bệnh lao.
Để thực hiện các thông tư này, các cơ sở điều trị HIV/AIDS và cơ sở phòng,
chống lao đã và đang được kiện toàn, chuyển vào hệ thống khám bệnh, chữa bệnh
để thanh toán qua BHYT. Đến tháng 10/2020 đã có 274 cơ sở điều trị HIV/AIDS
thanh toán ARV qua bảo
hiểm y tế.
Với định hướng lồng ghép triệt để
các dịch vụ chăm sóc điều trị HIV/AIDS và dịch vụ phát hiện, điều trị bệnh lao
vào mạng lưới y tế sẵn có, phân cấp mạnh cho y tế cơ sở, lấy tuyến huyện làm
trung tâm và tuyến xã là cơ bản để cung cấp dịch vụ thì các hoạt động điều trị
và dự phòng cũng được lồng ghép như điều trị HIV đồng thời cung cấp bơm kim
tiêm, bao cao cu, điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone, điều trị dự phòng trước phơi nhiễm
PrEP. Điều trị lao đồng thời dự phòng mắc lao bằng tiêm chủng BCG, điều trị lao
tiềm ẩn bằng các phác đồ INH, 3HP, 3RH,...với xu hướng này, việc cung cấp dịch
vụ HIV và lao tại cùng một cơ sở y tế tuyến huyện cần được tăng cường và kết
nối chặt chẽ với tuyến xã. Bên cạnh đó, nhiều thay đổi về hệ thống tổ chức từ
Trung ương đến địa phương, dẫn đến sự thay đổi về nhân sự và cơ chế phối hợp
giữa hai chương trình lao và HIV do vậy
cần tăng cường vai trò của Ban điều phối trong việc thực hiện phối hợp HIV/lao
tại các tuyến để hoạt động phối hợp HIV/lao có hiệu quả.
Hiện nay với sự phát triển của khoa
học, kỹ thuật máy xét nghiệm Gen- Xpert gọn nhẹ, có thể sử dụng nhiều tính năng
như phát hiện lao, xét nghiệm đo tải lượng HIV, viêm gan C, PCR chẩn đoán sớm
nhiễm HIV do đó rất hiệu quả để sử dụng cho chẩn đoán lao và chẩn đoán, theo
dõi điều trị HIV/AIDS. Theo báo cáo của chương trình lao đã có trên 200 máy xét
nghiệm Gen-Xpert tại các cơ sở phòng, chống lao trong cả nước và sẽ tăng lên
trong thời gian tới.
II. MỤC
TIÊU
Giảm tỷ lệ mắc lao ở người nhiễm
HIV; Giảm tỷ lệ tử vong và cải thiện chất lượng cuộc sống ở người bệnh đồng
nhiễm lao/HIV.
2.1. 100%
Ban điều phối HIV/lao tỉnh, thành phố duy trì và triển khai hoạt động hiệu quả
theo quy định của Bộ Y tế.
2.2. 95%
số người mắc lao được xét nghiệm HIV.
2.3. 92%
số người đồng nhiễm lao/HIV được điều trị đồng thời cả lao và ARV.
2.4. 90%
số người nhiễm HIV mới đăng ký điều trị ARV đủ tiêu chuẩn điều trị lao tiềm ẩn
được điều trị lao tiềm ẩn.
2.5. 90%
số người nhiễm HIV đang điều trị ARV đủ tiêu chuẩn điều trị lao tiềm ẩn hoàn
thành liệu trình điều trị lao tiềm ẩn.
III. CÁC
GIẢI PHÁP
Kiện toàn Ban điều phối HIV/lao các
tuyến với việc bổ sung nhân sự phù hợp, xây dựng và thực hiện quy chế phối hợp,
hoạt động cụ thể của Ban điều phối.
Tăng cường vai trò của Ban điều
phối trong việc thực hiện phối hợp HIV/lao tại các tuyến. Ban điều phối giao
trách nhiệm cụ thể và xác định kinh phí cho các hoạt động chung như giao ban Ban
điều phối, giám sát, hỗ trợ kỹ thuật.
Thực hiện xây dựng Kế hoạch phối
hợp HIV/lao theo giai đoạn, theo năm tại các tuyến. Kế hoạch được lồng ghép vào
các hoạt động của mỗi chương trình tại các tuyến, sử dụng tối đa nguồn kinh phí
từ các dịch vụ sẵn có thông qua hệ thống BHYT.
Tiếp tục triển khai mở rộng mô hình
lồng ghép quản lý và cung cấp dịch vụ HIV/lao ở tuyến huyện, xã trên toàn quốc.
Thường xuyên cập nhật các khuyến
cáo của Tổ chức Y tế thế giới về phối hợp HIV/lao.
Đào tạo và đào tạo lại cho cán bộ của
2 chương trình về công tác phối hợp HlV/lao và cập nhật thường xuyên các thay
đổi về chuyên môn theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
Chuẩn hóa quy trình, giao nhiệm vụ
cụ thể ở các cơ sở điều trị HIV/AIDS, cơ sở phòng, chống lao về phối hợp
HIV/lao trong quản lý ca bệnh, chuyển tiếp người bệnh giữa hai chương trình;
chia sẻ số liệu và báo cáo phối hợp HIV/lao tại cơ sở.
Tập huấn về cách thu thập, phân
tích sử dụng các chỉ số báo cáo về hoạt động phối hợp HIV/lao.
Kết nối giữa điều trị và dự phòng,
cung cấp dịch vụ dự phòng HIV và lao ngay tại tuyến xã, phường.
Tăng cường phát hiện lao ở người
nhiễm HIV bằng chiến lược 2X (chụp X- quang ngực và xét nghiệm Xpert MTB/Rif)
và các kỹ thuật chẩn đoán lao mới có độ nhạy, độ đặc hiệu cao.
Điều trị lao tiềm ẩn cho tất cả
người nhiễm HIV mới và người bệnh HIV đang quản lý điều trị đủ tiêu chuẩn.
Đảm bảo cung ứng đủ thuốc điều trị
bệnh lao và điều trị lao tiềm ẩn cho người nhiễm HIV.
Tăng cường công tác giám sát kiểm
soát nhiễm khuẩn tại cơ sở y tế, phòng lây nhiễm vi khuẩn lao và các tác nhân
gây bệnh qua đường hô hấp khác.
3. Công tác giám sát, báo cáo.
Hoàn thiện hệ thống báo cáo, sử
dụng phần mềm trong quản lý chương trình HIV và chương trình lao để dễ dàng
chia sẻ các chỉ số phối hợp giữa hai chương trình. Thống nhất các chỉ số cần
chia sẻ trên phần mềm mỗi chương trình và tiến tới lồng ghép vào hệ thống quản
lý chung của bệnh viện.
Sử dụng chủ yếu nguồn kinh phí từ
BHYT để phát hiện, chăm sóc, điều trị người nhiễm HIV, người bệnh lao và người
đồng nhiễm HIV lao theo quy định tại Thông tư số 27/2018/TT-BYT ngày 26/10/2018
của Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế và khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế
liên quan đến HIV/AIDS, Thông tư số 04/2016/TT-BYT ngày 26/02/2016 của Bộ Y tế
quy định về khám, chữa bệnh và thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm
y tế liên quan đến khám bệnh, chữa bệnh lao.
5. Tăng cường tiếp cận và cải thiện
chất lượng dịch vụ
Chú trọng đến việc cung cấp các
dịch vụ điều trị lao tiềm ẩn cho người nhiễm HIV, phối hợp chặt chẽ giữa 2
chương trình để dự trù nhu cầu chính xác, theo dõi chặt chẽ trong quá trình triển
khai và đảm bảo thuốc điều trị lao tiềm ẩn cho người nhiễm HIV sẵn có và liên
tục.
Điều trị sớm ARV cho người bệnh lao
nhiễm HIV bằng cách mở rộng mô hình lồng ghép cung cấp dịch vụ HIV và lao tại 1
cơ sở y tế. Loại trừ bệnh lao sớm trước khi bắt đầu điều trị ARV và điều trị
lao tiềm ẩn.
Triển khai mở rộng mô hình phối hợp
HIV/lao tại tuyến huyện. Đối với cơ sở chưa lồng ghép Lao/HIV thì tăng cường
phối hợp, cải thiện hệ thống chuyển tiếp thành công bằng cách phân công cụ thể
cán bộ chịu trách nhiệm theo dõi chuyển tiếp. Sử dụng tối đa hệ thống vận
chuyển bệnh phẩm chẩn đoán lao cho người nhiễm HIV hay xét nghiệm HIV cho người
mắc lao thay vì vận chuyển người bệnh để tránh mất dấu người bệnh và đảm bảo kết
quả xét nghiệm được thông tin kịp thời, chính xác đến thầy thuốc.
Cập nhật các khuyến cáo mới, các
thực hành tốt trong và ngoài nước trong việc chẩn đoán và điều trị lao, điều
trị HIV và điều trị lao tiềm ẩn ở người nhiễm HIV.
IV. CÁC
HOẠT ĐỘNG
1. Mục tiêu 1: 100% Ban điều phối
HIV/lao tỉnh, thành phố duy trì và triển khai hoạt động hiệu quả theo quy định
của Bộ Y tế.
- Trưởng
ban điều phối HIV/lao phân công trách nhiệm rõ ràng từng thành viên trong Ban
điều phối.
- Ban
điều phối HIV/lao xây dựng kế hoạch theo giai đoạn và từng năm, xác định rõ
nguồn kinh phí để thực hiện các hoạt động
- Ban
điều phối HIV/lao thực hiện kiểm tra giám sát các đơn vị thực hiện công tác
phối hợp HIV/lao ít nhất 1 lần/1 năm đối với mỗi huyện.
- Giao
ban định kỳ ít nhất 6 tháng/1 lần, theo dõi tiến độ thực hiện các mục tiêu, chỉ
đạo triển khai các hoạt động và can thiệp cho kỳ tiếp theo.
2. Mục tiêu 2: 95% số người mắc lao
được xét nghiệm HIV
Chương trình phòng, chống HIV/AIDS
và Chương trình phòng, chống lao đảm bảo đủ nguồn sinh phẩm và nhân lực cho
hoạt động tư vấn xét nghiệm HIV cho người bệnh lao.
Tất cả người bệnh lao tại các cơ sở
phòng, chống lao phải được tư vấn và xét nghiệm HIV trước khi điều trị và trong
quá trình điều trị lao theo quy định của Bộ Y tế.
Tư vấn xét nghiệm HIV cho bạn tình,
bạn chích thường xuyên của người nhiễm HIV mắc lao. Nếu kết quả xét nghiệm HIV của bạn
tình, bạn chích dương tính, giới thiệu kết nối với dịch vụ chăm sóc điều trị
HIV sớm. Nếu kết quả xét nghiệm HIV của bạn tình âm tính, giới thiệu kết nối
với dịch vụ điều trị dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP) và các dịch vụ dự phòng
HIV khác phù hợp.
Khuyến khích tư vấn xét nghiệm HIV
cho người nghi lao, nếu có đủ nguồn lực.
Kết nối chuyển gửi thành công những
trường hợp mắc lao xét nghiệm HIV dương tính đến cơ sở điều trị HIV/AIDS để
được điều trị ARV sớm theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
3. Mục
tiêu 3: 92% số người bệnh đồng nhiễm HIV và lao được điều trị đồng thời Lao và
ARV trên tổng số người bệnh đồng nhiễm HIV và lao được phát hiện trong năm
3.1. Người nhiễm HIV mắc lao được
điều trị đồng thời lao và ARV
Thực hiện sàng lọc lao và phát hiện
tích cực bệnh lao ở người nhiễm HIV theo đúng quy định của Bộ Y tế tại tất cả
các cơ sở điều trị HIV/AIDS.
Cơ sở điều trị HIV/AIDS chuyển
những người nhiễm HIV có triệu chứng nghi mắc lao hoặc được chẩn đoán xác định
mắc lao sang cơ sở chống lao để được khám, chẩn đoán và điều trị lao. Ưu tiên
áp dụng chiến lược 2X (chụp X quang ngực và xét nghiệm Xpert MTB/Rif hoặc Ultra) cho người nhiễm HIV nghi lao.
Mở rộng mô hình lồng ghép quản lý
và cung cấp dịch vụ HIV/lao tại cơ sở y tế tuyến huyện để giảm mất dấu khi
chuyển gửi giữa hai chương trình.
Các cơ sở điều trị HIV/AIDS gửi tóm
tắt chẩn đoán, điều trị ARV của người nhiễm HIV nghi lao sang cơ sở phòng,
chống lao và đánh giá kết quả chuyển tiếp thành công sang cơ sở phòng, chống
lao, sử dụng phiếu chuyển tiếp, chuyển tuyến theo quy định. Cơ sở phòng, chống
lao kịp thời phản hồi thông tin cho cơ sở điều trị HIV/AIDS về việc tiếp nhận
bệnh nhân nhiễm HIV mắc lao được chuyển đến, thông tin về chẩn đoán, điều trị
lao của người nhiễm HIV mắc lao được chuyển đến.
3.2. Người bệnh lao phát hiện nhiễm
HIV được điều trị đồng thời cả ARV và lao
Cơ sở phòng, chống lao thực hiện tư
vấn xét nghiệm HIV cho tất cả người bệnh lao, đảm bảo chuyển gửi tất cả mẫu
bệnh phẩm (ưu tiên áp dụng hình thức này) hoặc người bệnh lao có kết quả xét
nghiệm sàng lọc HIV có phản ứng đến cơ sở xét nghiệm khẳng định HIV. Nếu kết quả HIV dương tính và người
bệnh chưa đăng ký điều trị ARV tại cơ sở điều trị HIV/AIDS nào, cơ sở phòng,
chống lao cần chuyển gửi người bệnh lao nhiễm HIV đến cơ sở điều trị HIV/AIDS phù
hợp nơi người bệnh sinh sống hoặc cùng địa bàn quản lý bệnh lao của người bệnh,
tạo điều kiện cho người bệnh được nhận thuốc lao và ARV ở cùng địa điểm.
Cơ sở phòng, chống lao gửi tóm tắt
kết quả khám, chẩn đoán và điều trị lao của người mắc lao nhiễm HIV sang cơ sở
điều trị HIV/AIDS và đánh giá kết quả chuyển tiếp thành công sang cơ sở điều
trị HIV/AIDS, sử dụng phiếu chuyển tiếp, chuyển tuyến theo quy định. Cơ sở điều
trị HIV/AIDS kịp thời phản hồi thông tin cho cơ sở phòng, chống lao việc tiếp
nhận người mắc lao nhiễm HIV được chuyển đến, thông tin điều trị ARV của người
mắc lao nhiễm HIV chuyển đến.
4. Mục tiêu 4: 90% số người nhiễm
HIV mới đăng ký vào chương trình điều trị HIV/AIDS được
điều trị lao tiềm ẩn
- Thường
xuyên rà soát tiêu chuẩn điều trị lao tiềm ẩn cho tất cả người nhiễm HIV mới đảng ký tại cơ sở điều trị
HIV/AIDS, đảm bảo loại trừ mắc lao và không có các chống chỉ định đối với phác
đồ điều trị lao tiềm ẩn trước khi khởi liều.
- Cơ sở
điều trị HIV/AIDS xây dựng kế hoạch dự trù thuốc căn cứ kế hoạch điều trị lao
tiềm ẩn cho người nhiễm HIV, tình hình sử dụng thuốc; gửi báo cáo quý và năm
cho đơn vị đầu mối chương trình lao, chương trình HIV của tỉnh, thành phố.
- Đơn vị
đầu mối chương trình HIV của tỉnh, thành phố xây dựng kế hoạch năm, phối hợp chặt
chẽ với chương trình lao của tỉnh, thành phố đảm bảo không gián đoạn cung ứng
thuốc điều trị lao tiềm ẩn cho các cơ sở điều trị HIV/AIDS.
5. Mục tiêu 5: 90% số người nhiễm
HIV đang điều trị ARV đủ tiêu chuẩn điều trị lao tiềm ẩn hoàn thành liệu trình
điều trị lao tiềm ẩn.
- Thường xuyên
rà soát bệnh nhân đang điều trị ARV đủ tiêu chuẩn điều trị lao tiềm ẩn để xác
định tình trạng điều trị lao tiềm ẩn, tình trạng hoàn thành liệu trình điều trị
lao tiềm ẩn theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Trường hợp đã điều trị lao tiềm ẩn
nhưng chưa hoàn thành liệu trình điều trị cần được điều trị lại theo hướng dẫn
điều trị lao tiềm ẩn của Bộ Y tế.
- Cơ sở
điều trị HIV/AIDS xây dựng kế hoạch dự trù thuốc điều trị lao tiềm ẩn cho người
đang điều trị ARV chưa được điều trị lao tiềm ẩn hoặc chưa hoàn thành liệu
trình điều trị và tổng hợp vào nhu cầu điều trị lao tiềm ẩn chung của đơn vị,
gửi cơ quan đầu mối chương trình lao, chương trình HIV của tỉnh, thành phố để
tiếp nhận thuốc, bảo đảm thuốc điều trị lao tiềm ẩn sẵn có và liên tục.
- Cơ sở
điều trị HIV/AIDS và cơ sở phòng, chống lao ưu tiên sử dụng tối đa nguồn chi
trả từ BHYT trong quá trình cung cấp dịch vụ khám, chẩn đoán và điều trị cho
người nhiễm HIV và người bệnh lao.
- Chương
trình chống lao và HIV tuyến tỉnh phối hợp chặt chẽ khi xây dựng kế hoạch năm sử
dụng nguồn kinh phí từ chính phủ hoặc địa phương cho chương trình phòng, chống
HIV/AIDS và Chương trình chống lao, đảm bảo có các dòng kinh phí hỗ trợ người
bệnh khi không được BHYT chi trả.
- Cơ sở
điều trị HIV/AIDS và cơ sở phòng, chống lao sử dụng hiệu quả các nguồn kinh
phí, kể cả nguồn viện trợ và các nguồn kinh phí khác trong quá trình cung cấp
dịch vụ khám, điều trị cho người nhiễm HIV và người bệnh lao.
Nguyên tắc huy động và sử dụng kinh
phí:
Các hoạt
động thuộc Chương trình nào chủ trì thì chương trình đó có trách nhiệm huy động
kinh phí hoặc sử dụng kinh phí chương trình của mình để chi trả. Các hoạt động phối
hợp cần có sự thống nhất giữa hai đơn vị thông qua kế hoạch chung. Không chồng
chéo các nguồn kinh phí.
Phần
III
TỔ CHỨC
THỰC HIỆN
1. Bộ Y tế
1.1. Cục Phòng, chống HIV/AIDS:
Tạo cơ chế, huy động nguồn lực để
đảm bảo các hoạt động:
- Duy trì
sàng lọc lao cho người nhiễm HIV có hiệu quả cao, chuyển người nhiễm HIV nghi
lao hoặc mắc lao sang cơ sở phòng, chống lao để chẩn đoán và điều trị.
- Cung
ứng đầy đủ liên tục thuốc kháng HIV.
- Xét
nghiệm, theo dõi, điều trị HIV/AIDS.
- Chia sẻ
tài liệu để tập huấn cho cán bộ phòng, chống lao về các nội dung liên quan
HIV/AIDS.
- Chia sẻ
thông tin định kỳ với dự án phòng, chống lao quốc gia, Cục Quản lý Khám, chữa
bệnh và các đơn vị liên quan khác về tình hình điều trị ARV cho người nhiễm HIV mắc Lao, tình hình tương tác
thuốc ARV và thuốc lao, điều trị lao tiềm ẩn; rà soát và xây dựng gói dịch vụ
chi trả khám chữa bệnh thông qua bảo hiểm y tế cho người nhiễm HIV mắc lao.
- Giám
sát, hỗ trợ kỹ thuật về công tác phối hợp HlV/lao cho các cơ sở phòng, chống
lao.
1.2. Dự
án phòng, chống lao quốc gia
Tạo Cơ chế, huy động nguồn lực để
đảm bảo các hoạt động:
- Xét
nghiệm HIV ở người bệnh lao.
- Chẩn
đoán lao ở người nhiễm HIV, ưu
tiên chiến lược 2X (X quang ngực, Xpert).
- Điều
trị lao cho người bệnh HIV/lao.
- Cung
ứng đủ thuốc để điều trị lao tiềm ẩn cho người nhiễm HIV
- Chia sẻ
tài liệu để tập huấn cho cán bộ phòng, chống HIV/AIDS các nội dung liên quan
đến sàng lọc, chẩn đoán lao điều trị lao tiềm ẩn, các biện pháp kiểm soát lây nhiễm
lao và các bệnh lây truyền qua đường hô hấp khác; rà soát và xây dựng gói dịch
vụ chi trả khám chữa bệnh thông qua bảo hiểm y tế cho người nhiễm HIV mắc lao.
- Chia sẻ
thông tin định kỳ với Cục phòng, chống HIV/AIDS, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh và
các đơn vị liên quan khác về tình hình chẩn đoán, điều trị Lao cho người nhiễm
HIV mắc Lao, tình hình cung ứng thuốc điều trị lao tiềm ẩn.
- Giám
sát, hỗ trợ kỹ thuật về công tác phối hợp HIV/lao cho các cơ sở phòng, chống
lao.
1.3. Cục Quản lý Khám, chữa bệnh
- Giám
sát các hoạt động chuyên môn về chăm sóc điều trị HIV/AIDS và chẩn đoán, điều
trị lao tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
- Kiểm
tra, giám sát công tác kiểm soát nhiễm khuẩn lao và các bệnh lây truyền qua
đường hô hấp khác tại các cơ sở HIV/AIDS và cơ sở phòng, chống lao nằm trong hệ
thống khám bệnh, chữa bệnh.
- Hỗ trợ
trong quá trình xây dựng gói dịch vụ chi trả khám chữa bệnh thông qua bảo hiểm
y tế cho người nhiễm HIV mắc lao.
2. Các
tỉnh/thành phố
2.1. Sở Y tế (Trưởng ban điều phối
HIV/lao tỉnh/thành phố)
- Phê
duyệt kế hoạch phối hợp HlV/lao theo giai đoạn 5 năm và hằng năm và chia sẻ với
các bên liên quan, đảm bảo việc huy động các nguồn lực, theo dõi triển khai các
hoạt động lao/HIV diễn thuận lợi và đạt hiệu quả cao.
- Phân bố
kinh phí hợp lý trong phạm vi quản lý để thực hiện kế hoạch phối hợp HIV/lao.
- Phân
công cụ thể các thành viên trong Ban điều phối và các đơn vị tuyến quận/huyện,
xã phường để thực hiện kế hoạch phối hợp phòng, chống lao và HIV có hiệu quả ở
tất cả các cấp.
2.2. Cơ quan đầu mối phòng chống
HIV/AIDS tỉnh, thành phố
- Căn cứ
vào kế hoạch phối hợp công tác HIV/lao của Trung ương để tham mưu cho Trưởng
ban điều phối HIV/lao tỉnh/thành phố ban hành kế hoạch phù hợp với tình hình
địa phương theo giai đoạn và hàng năm.
- Chia sẻ
số liệu do Chương trình phòng, chống HIV/AIDS tỉnh/thành phố đảm nhận cho Dự án
phòng, chống lao tỉnh/thành phố.
- Chủ
trì, phối hợp với Chương trình phòng, chống lao tỉnh/thành phố để thực hiện kế
hoạch phối hợp HIV/lao.
- Đầu mối
báo cáo Trưởng ba n điều phối về triển khai thực hiện kế hoạch phối hợp
HIV/lao.
2.3. Dự án phòng, chống lao tỉnh,
thành phố
- Phối
hợp với Cơ quan đầu mối phòng chống HIV/AIDS tỉnh, thành phổ xây dựng kế hoạch
theo giai đoạn và hằng năm trình Trưởng ban điều phối HIV/lao tỉnh, thành phố
ban hành.
- Thực
hiện các nội dung theo kế hoạch do chương trình phòng, chống lao tỉnh, thành
phổ đảm nhận.
- Chia sẻ số liệu do Dự án phòng, chống lao tỉnh, thành phố đảm nhận cho Chương trình phòng, chống HIV/AIDS tỉnh, thành phố để báo cáo Trưởng ban điều phối HIV/lao tỉnh/thành phố.
Tệp tin văn bản
Mục lục
So sánh văn bản
...Đang xử lý dữ liệu...