BỘ Y TẾ _______ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc
lập - Tự do - Hạnh phúc ________________________ |
HƯỚNG DẪN TẠM THỜI
Dự
phòng và xử trí viêm đường hô hấp cấp tính do chủng vi rút SARS-CoV-2
(COVID-19) ở phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh
Ban hành kèm theo Quyết định số:
1271/QĐ-BYT, ngày 21 tháng 3 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế
___________
1. Đại cương
1.1. Vi rút
Vi rút Corona (CoV) là
một họ vi rút lớn ở động vật và người. Vi rút Corona được chia làm 4 giống, bao
gồm 2 giống anpha và 2 giống beta gây bệnh trên người, với các triệu chứng từ
cúm thông thường đến những trường hợp bệnh nghiêm trọng hơn như hội chứng viêm
đường hô hấp cấp tính nặng SARS-CoV và hội chứng bệnh hô hấp Trung Đông
(MERS-CoV), gây viêm phổi nặng có thể dẫn tới tử vong.
Vi rút Corona có hình
cầu với đường kính khoảng 125nm, có các protein bề mặt nổi lên hình gai. Vi rút
chứa 4 protein cấu trúc chính là protein gai (S), protein màng (M), protein vỏ
(E) và nucleocapsid (N). Bên trong vỏ của virion là nucleocapsid sợi đơn dương,
đối xứng xoắn ốc. Vi rút có RNA sợi đơn dương tính, không phân đoạn, khoảng 30
kb.
1.2. Lây truyền
SARS-COV-2 là một chủng
vi rút Corona mới gây COVID-19, lần đầu tiên được nhận diện ở thành phố Vũ Hán,
Trung Quốc. Chủng vi rút này có khả năng lây truyền từ động vật sang người và
trực tiếp từ người sang người qua giọt bắn, đường hô hấp, tiếp xúc gần.
Đối với phụ nữ mang
thai, theo ý kiến các chuyên gia, chưa có cơ sở khoa học khẳng định thai nhi có
khả năng lây nhiễm vi rút SARS-COV-2 qua bánh rau trong quá trình mang thai.
Những nghiên cứu của tác giả Chen và cộng sự công bố đầu năm 2020 cho thấy khi
xét nghiệm nước ối, máu cuống rốn, rau thai, dịch âm đạo và sữa mẹ của phụ nữ
nhiễm COVID-19 cho kết quả âm tính với vi rút SARS-COV-2; kết quả xét nghiệm
dịch họng ở trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm COVID-19 cũng cho kết quả âm tính với vi
rút này.
1.3. Ảnh hưởng
của COVID-19 đối với phụ nữ mang thai và thai nhi
Cũng như các đối tượng
khác, đa số phụ nữ mang thai nhiễm COVID-19 có biểu hiện lâm sàng ở mức độ nhẹ
hoặc trung bình (thể bệnh Viêm đường hô hấp trên hoặc Viêm phổi nhẹ), một số
rất ít mắc bệnh thể nặng. Đến nay mới có một trường hợp được báo cáo là một phụ
nữ mang thai 30 tuần nhiễm COVID-19 mức độ nặng phải thở máy đã được mổ lấy
thai cấp cứu và hồi phục sức khỏe tốt.
Đối với thai nhi, các
nghiên cứu gần đây về COVID-19 cũng như những nghiên cứu trước đây về bệnh
SARS-CoV và MERS-CoV cho thấy không có bằng chứng nào chứng minh có mối liên
quan giữa những bệnh này và tình trạng sảy thai. Chưa có cơ sở khoa học chỉ ra
mối liên quan giữa COVID-19 ở phụ nữ mang thai và tình trạng thai bị nhiễm vi
rút trong tử cung hay thai bị các dị tật bẩm sinh do vi rút SARS-COV-2. Tuy
nhiên, cũng có bằng chứng cho rằng viêm phổi do vi rút ở phụ nữ mang thai có
liên quan đến tăng nguy cơ sinh non, thai chậm phát triển và tử vong chu
sinh...
2. Dự phòng và kiểm soát lây nhiễm
2.1. Cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh có cung cấp dịch vụ sản khoa và chăm sóc trẻ sơ sinh:
- Chuẩn bị nhân lực, cơ sở hạ tầng, phương tiện, trang
thiết bị, vật tư y tế để thực hiện nguyên tắc phòng ngừa và các biện pháp kiểm
soát lây truyền trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định hiện hành của Bộ
Y tế.
- Đảm bảo đủ các phương tiện phục vụ phòng ngừa, đặc
biệt trang phục phòng hộ cá nhân, dung dịch vệ sinh tay và khẩu trang y tế.
- Yêu cầu phân luồng:
+ Tổ chức sàng lọc,
phát hiện sớm và kiểm soát người bệnh nhiễm hoặc nghi nhiễm COVID-19 ngay tại
nơi đón tiếp.
+ Bố trí khu vực riêng
để tiếp đón, sàng lọc và phân luồng các phụ nữ mang thai đến khám. Khi có dấu
hiệu nghi ngờ chuyển vào khu khám cách ly.
+ Thực hiện khám thai
thường quy, những trường hợp nghi nhiễm COVID-19, phối hợp với các cơ sở y tế
dự phòng để lấy mẫu xét nghiệm, chẩn đoán.
+ Bố trí phòng sinh
riêng cho phụ nữ mang thai nghi nhiễm và nhiễm.
- Các cơ sở y tế thực hiện ngay “Điều tra, giám sát,
báo cáo ca bệnh” theo Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị viêm đường hô hấp cấp tính
do chủng vi rút Corona mới theo Quyết định số 322/QĐ-BYT ngày 06/02/2020 của Bộ
Y tế.
- Cơ sở khám chữa bệnh cần bố trí nhân lực để chăm sóc
riêng người nhiễm hoặc nghi nhiễm COVID-19. Trong quá trình chăm sóc người
nhiễm hoặc nghi nhiễm COVID-19, các nhân viên y tế này không tham gia chăm sóc
những người bệnh khác.
2.2. Phụ nữ mang
thai, bà mẹ sau sinh đến khám (người bệnh):
- Hướng dẫn người bệnh và người nhà đến khám đeo khẩu
trang, tới khu vực cách ly.
- Giữ khoảng cách tối thiểu là 2m giữa các người bệnh.
- Hướng dẫn người bệnh che mũi miệng khi ho, hắt hơi
và rửa tay ngay sau khi tiếp xúc dịch hô hấp.
- Hạn chế người bệnh di chuyển trong cơ sở y tế.
- Người nhà đi kèm với người nhiễm hoặc nghi nhiễm
COVID-19 cần phải được xem như là có phơi nhiễm với COVID-19 và cũng phải được
tầm soát cho đến hết thời gian theo dõi theo quy định để giúp chẩn đoán sớm và
phòng ngừa COVID-19.
2.3. Nhân viên y tế: tuân thủ
thực hành phòng ngừa chuẩn và phòng ngừa dựa theo đường lây truyền, áp dụng các
biện pháp dự phòng giọt bắn, dự phòng tiếp xúc, dự phòng lây truyền qua đường
không khí theo quy định hiện hành của Bộ Y tế.
3. Xử trí phụ nữ mang thai nhiễm hoặc nghi nhiễm
COVID-19
3.1. Tiến hành chẩn đoán phát hiện sớm người nhiễm
hoặc nghi nhiễm COVID-19: thực
hiện theo Quyết định số 322/QĐ-BYT ngày 06/02/2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban
hành Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị viêm đường hô hấp cấp tính do chủng vi rút
Corona mới và các hướng dẫn liên quan của Bộ Y tế.
3.2. Xử trí
3.2.1. Nguyên
tắc xử trí
- Ưu tiên các điều trị nội khoa trước.
- Phân loại thể lâm sàng và điều trị theo Quyết định
số 322/QĐ-BYT ngày 06/02/2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Hướng dẫn chẩn
đoán, điều trị viêm đường hô hấp cấp tính do chủng vi rút Corona mới.
- Hạn chế các can thiệp sản khoa trong thời gian nghi
nhiễm/nhiễm COVID-19, trừ khi có chỉ định cần can thiệp cấp cứu (rau tiền
đạo/cài răng lược có chảy máu nhiều, rau bong non, thai suy,...) hoặc bán cấp
(vỡ ối, chuyển dạ...).
- Cân nhắc lợi ích giữa mẹ và thai nhi.
3.2.2. Xử trí phụ nữ mang thai nghi nhiễm hoặc nhiễm
COVID-19
a. Khám thai:
- Thực hiện khám thai theo Hướng dẫn quốc gia về các
dịch vụ Chăm sóc sức khỏe sinh sản được ban hành tại Quyết định số 4128/QĐ-BYT
ngày 29/7/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
- Khi khám thai cần kết hợp tư vấn các biện pháp dự
phòng lây nhiễm COVID-19.
- Trường hợp phụ nữ mang thai nghi nhiễm COVID-19 cần
được làm xét nghiệm chẩn đoán càng sớm càng tốt; nếu không làm được xét nghiệm
khẳng định chẩn đoán COVID-19 thì liên hệ với cơ sở xét nghiệm đã được Bộ Y tế
cho phép.
b. Xử trí phụ nữ mang thai:
- Nghi nhiễm
COVID-19:
+ Chuyển vào cơ sở cách ly tập trung của địa phương và
thực hiện cách ly theo hướng dẫn hiện hành của Bộ Y tế.
+ Chuyển đến cơ sở y tế
điều trị COVID-19 của địa phương nếu xét nghiệm COVID-19 dương tính.
+ Chuyển đến cơ sở sản khoa nếu có dấu hiệu bất thường
về sản khoa hoặc chuyển dạ.
- Nhiễm COVID-19:
+ Ưu tiên điều trị
COVID-19 trước, chỉ can thiệp sản khoa khi có triệu chứng cấp cứu về sản khoa
hoặc khi tình trạng mẹ nặng cần hội chẩn các chuyên khoa liên quan.
+ Thai phụ nhiễm
COVID-19 nhưng không có triệu chứng lâm sàng hoặc có biểu hiện lâm sàng bệnh
thể nhẹ (Viêm đường hô hấp trên, Viêm phổi nhẹ), được điều trị COVID-19 theo
hướng dẫn của Bộ Y tế (ban hành kèm theo Quyết định số 322/QĐ-BYT ngày
06/02/2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế), chỉ can thiệp sản khoa khi có triệu chứng
cấp cứu về sản khoa như đau bụng, ra máu âm đạo, vỡ ối...
+ Thai phụ nhiễm
COVID-19 thể nặng (Viêm phổi nặng, Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển, Nhiễm
trùng huyết, Sốc nhiễm trùng, ...), điều trị COVID-19 theo hướng dẫn của Bộ Y
tế (ban hành kèm theo Quyết định số 322/QĐ-BYT ngày 06/02/2020 của Bộ trưởng Bộ
Y tế), hội chẩn trên từng ca bệnh với các chuyên khoa truyền nhiễm/hồi sức/sơ
sinh, ...
+ Thực hiện các kỹ
thuật chẩn đoán hình ảnh như chụp X quang và CT Scan ngực như đối với người
không mang thai, chú ý sử dụng các phương tiện bảo vệ thai nhi.
+ Thai phụ nhiễm
COVID-19 (kể cả đã khỏi) cần được quản lý thai 2 - 4 tuần/lần nhằm phát hiện
sớm những trường hợp thai chậm phát triển trong tử cung.
c. Can thiệp sản khoa:
- Điều trị dọa sảy thai, dọa đẻ non cần căn cứ vào
tình trạng của thai phụ, thai nhi và nên hội chẩn với các chuyên khoa truyền
nhiễm/hồi sức/sơ sinh..
- Sử dụng Corticosteroid giúp trưởng thành phổi của
thai ở những thai phụ nhiễm COVID-19 có nguy cơ sinh non cần lưu ý:
+ Thai phụ nhiễm
COVID-19 với biểu hiện lâm sàng nhẹ có thể sử dụng Corticosteroid.
+ Thai phụ nhiễm
COVID-19 với biểu hiện lâm sàng nặng, cần hội chẩn với các chuyên khoa (truyền
nhiễm/hồi sức/sơ sinh, ...) trước khi sử dụng Corticosteroid.
- Tiếp tục theo dõi thai, không có chỉ định đình chỉ
thai nghén do mẹ nhiễm COVID-19 mà không có biểu hiện lâm sàng hoặc có biểu
hiện lâm sàng ở các thể bệnh nhẹ.
- Trường hợp không có triệu chứng cấp cứu về sản khoa
nhưng thai quá ngày dự kiến sinh thì hội chẩn các chuyên khoa để quyết định có
lấy thai ra không và lựa chọn phương pháp sinh. Nếu không có suy thai, tư vấn
người bệnh và gia đình trì hoãn cuộc chuyển dạ, theo dõi monitor sản khoa hàng
ngày.
3.2.3. Xử trí
chuyển dạ
- Theo dõi chuyển dạ theo Hướng dẫn quốc gia về các
dịch vụ Chăm sóc sức khỏe sinh sản được ban hành tại Quyết định số 4128/QĐ-BYT
ngày 29/7/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
- Cần có sự kết hợp theo dõi và điều trị của các bác
sĩ chuyên khoa Sản, Truyền nhiễm/Hồi sức/Nội khoa, ... Trường hợp cần thiết, có
thể tham vấn với bệnh viện chuyên ngành tuyến trên.
- Tăng cường theo dõi bằng máy monitor sản khoa để
giảm tiếp xúc giữa người bệnh và nhân viên y tế.
3.2.4. Mổ lấy
thai
- Chỉ định:
+ Theo các hướng dẫn
chuyên môn của chuyên ngành sản khoa.
+ Cân nhắc đến việc mổ
lấy thai trong trường hợp sản phụ nhiễm COVID-19 thể nặng ảnh hưởng nặng đến
chức năng hô hấp.
- Chỉ định mổ lấy thai đối với sản phụ nhiễm COVID-19
dựa trên tình trạng bệnh lý của mẹ, tình trạng thai nhi, tuổi thai và cần được
hội chẩn các chuyên khoa (Sản khoa và Truyền nhiễm/Gây mê hồi sức/Hồi sức/Nội
khoa/Nhi-sơ sinh,...).
- Những trường hợp có chỉ định mổ lấy thai chủ động
thì ưu tiên điều trị COVID-19, đồng thời theo dõi sản phụ để mổ lấy thai khi
cần chỉ định.
3.2.5. Giảm đau
trong và sau mổ
- Không có chống chỉ định giảm đau bằng gây tê tủy
sống hay gây tê ngoài màng cứng đối với người nhiễm COVID-19.
- Ưu tiên gây tê tuỷ sống nếu không có chống chỉ định.
- Chỉ gây mê toàn thân khi thật cần thiết (mẹ bị suy
hô hấp nặng, tình trạng cấp cứu của sản phụ/thai nhi, hoặc trong bệnh lý rau
tiền đạo,...) vì kỹ thuật này làm tăng sự lan tràn của vi rút. Ưu tiên sử dụng
hệ thống dẫn khí dùng 1 lần, đặt nội khí quản qua đèn nội soi (nếu có) và thực
hiện kỹ thuật đặt nội khí quản bởi bác sĩ gây mê hồi sức có kinh nghiệm.
3.2.6. Chăm sóc
bà mẹ và trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ
- Đối với sản phụ nghi
nhiễm COVID-19: trẻ sơ sinh khỏe mạnh có thể nằm cùng phòng với mẹ và giường
trẻ cần cách xa giường nằm sản phụ tối thiểu 2m. Thảo luận/tư vấn với người mẹ
và gia đình về lợi ích của việc NCBSM và cách dự phòng nguy cơ của việc tiếp
xúc gần với mẹ khi cho trẻ bú. Nếu người mẹ lựa chọn cho con bú, cần thực hiện
các biện pháp phòng ngừa để hạn chế lây nhiễm vi rút cho trẻ: Rửa tay trước khi
chăm sóc trẻ, trước khi sử dụng máy hút sữa hoặc dụng cụ cho trẻ ăn; Đeo khẩu
trang khi cho trẻ bú; Làm sạch máy hút sữa sau mỗi lần sử dụng ...
- Đối với sản phụ nhiễm COVID-19: cách ly trẻ sơ sinh
và người mẹ theo hướng dẫn cách ly chung của Bộ Y tế. Trong thời gian cách ly,
bà mẹ lựa chọn nuôi con bằng sữa mẹ cần vắt sữa cho trẻ ăn, hướng dẫn cho bà mẹ
cách thực hành các biện pháp dự phòng lây nhiễm trong quá trình vắt sữa. Bà mẹ
lựa chọn không nuôi con bằng sữa mẹ có thể sử dụng sữa từ ngân hàng sữa mẹ hoặc
cán bộ y tế hướng dẫn pha sữa và cho trẻ ăn đúng cách.
3.2.7. Chăm sóc
trẻ sơ sinh
- Trẻ sơ sinh được sinh ra từ người mẹ nhiễm hoặc nghi
nhiễm COVID-19 cần được làm xét nghiệm chẩn đoán nhiễm COVID-19. Thường tiến
hành sau khi đã ổn định trẻ và hoàn tất các chăm sóc thường quy. Theo dõi cho
đến hết thời gian theo quy định.
- Thực hiện chăm sóc và điều trị trẻ sơ sinh theo Hướng
dẫn quốc gia về các dịch vụ Chăm sóc sức khỏe sinh sản được ban hành tại Quyết
định số 4128/QĐ-BYT ngày 29/7/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
- Đối với trẻ sơ sinh nhiễm COVID-19, cần lưu ý:
+ Mức độ chăm sóc và
điều trị trẻ tùy vào biểu hiện lâm sàng do bác sĩ nhi sơ sinh đánh giá và quyết
định theo Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ Chăm sóc sức khỏe sinh sản và Hướng
dẫn chẩn đoán, điều trị viêm đường hô hấp cấp tính do chủng vi rút Corona mới.
+ Nếu trẻ sốt hoặc có
dấu hiệu về hô hấp, cần được theo dõi các chức năng sống liên tục. Nếu trẻ
không có triệu chứng, theo dõi 2-4 giờ/lần.
+ Trường hợp suy hô hấp
tiến triển (RDS) hoặc ARDS: có thể cho surfactant, iNO.
+ Chỉ dùng kháng sinh
khi có viêm phổi. Sử dụng kháng sinh phổ rộng sớm nếu có nhiễm trùng huyết và
sốc nhiễm trùng.
+ Cân nhắc sử dụng ECMO
nếu không đáp ứng điều trị.
+ Các trường hợp sốc
nhiễm trùng và /hoặc suy chức năng đa cơ quan: có thể lọc máu liên tục.
+ Hiện chưa có thuốc
kháng vi rút đặc hiệu cho COVID-19. Các liệu pháp kháng vi rút, corticosteroid,
Imunoglobulin tĩnh mạch đều chưa được khuyến cáo và phải xem xét cân nhắc từng
trường hợp.
3.2.8. Chăm sóc
tiếp theo cho bà mẹ nhiễm COVID-19 và trẻ sơ sinh
Tất cả bà mẹ và trẻ sơ
sinh tiếp tục được thăm khám và theo dõi sát bởi các bác sĩ và điều dưỡng nhi
sơ sinh theo Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ Chăm sóc sức khỏe sinh sản được
ban hành tại Quyết định số 4128/QĐ-BYT ngày 29/7/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế và
các quy định hiện hành về dự phòng và xử trí bệnh viêm đường hô hấp cấp tính do
COVID-19.
3.2.9. Xuất
viện và theo dõi
- Tiêu chuẩn ra viện của bà mẹ và trẻ sơ sinh: sau 14
ngày cách ly và ổn định, hết sốt (nếu có) ít nhất 3 ngày, xét nghiệm SARS-CoV 2
âm tính trên 02 mẫu bệnh phẩm lấy cách nhau ít nhất 01 ngày.
- Bà mẹ và trẻ sơ sinh sau khi xuất viện cần theo dõi
thân nhiệt tại nhà 2 lần/ngày, nếu thân nhiệt cao hơn 38oC ở 2 lần
đo liên tiếp hoặc có các dấu hiệu bất thường khác, phải đến khám lại ngay tại
các cơ sở y tế. Đối với trẻ đã nhiễm COVID-19 cần tái khám để kiểm tra các biến
chứng lâu dài.
4. Tổ chức các cơ sở y tế đáp ứng nhu cầu chăm sóc phụ
nữ mang thai, bà mẹ và trẻ sơ sinh trong bối cảnh dịch COVID-19
4.1. Khu cách ly tập trung: liên hệ cơ sở sản khoa tuyến tỉnh để được hỗ trợ
chuyên môn kỹ thuật khi có phụ nữ mang thai.
4.2. Cơ sở y
tế:
- Các bệnh viện
chỉ đạo tuyến sản, nhi: Các bệnh
viện được Bộ Y tế phân công chỉ đạo tuyến lĩnh vực sản khoa và nhi khoa chuẩn
bị cơ sở vật chất (chuẩn bị phòng cách ly áp lực âm trong điều kiện cho phép),
trang thiết bị (đặc biệt là trang thiết bị bảo hộ cho nhân viên y tế) nhân lực
sẵn sàng tiếp nhận, xử trí các trường hợp phụ nữ mang thai, bà mẹ và trẻ sơ
sinh nghi nhiễm hoặc nhiễm COVID-19; đồng thời chuẩn bị sẵn sàng nhân lực,
trang thiết bị hỗ trợ chuyên môn kỹ thuật cho tuyến dưới trong các trường hợp
cần thiết.
- Các bệnh viện phụ sản, nhi, sản
- nhi, bệnh viện đa khoa tỉnh (đối với các tỉnh chưa có bệnh viện chuyên khoa
sản, nhi): Cần chuẩn bị đủ cơ sở
vật chất (chuẩn bị phòng cách ly áp lực âm trong điều kiện cho phép), trang
thiết bị, nhân lực sẵn sàng tiếp nhận, xử trí các trường hợp phụ nữ mang thai,
bà mẹ và trẻ sơ sinh nghi ngờ hoặc đã xác định nhiễm COVID-19.
KT. BỘ
TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
PHÓ
TRƯỞNG BAN CHỈ ĐẠO QUỐC GIA
PHÒNG CHỐNG DỊCH
Nguyễn
Trường Sơn