HƯỚNG DẪN
SỬ
DỤNG SINH PHẨM XÉT NGHIỆM NHANH KHÁNG NGUYÊN VI RÚT SARS-COV-2
(Ban hành kèm theo Quyết định số 2022
ngày 28/4/2021của Bộ Y tế)
I. THÔNG TIN CHUNG
Tình hình dịch bệnh COVID-19 hiện vẫn
đang diễn biến hết sức phức tạp. Tổng số ca mắc
COVID-19 trên toàn cầu đã vượt 144 triệu ca bệnh, trong đó trên 3 triệu người tử
vong. Tại Việt Nam tính đến 23/4/2021 đã có hơn 2,800 trường hợp dương tính với
SARS-CoV-2, trong đó có hơn 1.500 ca trong nước.
Việc chẩn đoán mắc COVID-19 thời gian
qua chủ yếu dựa vào xét nghiệm Realtime RT-PCR. Đến nay trên
toàn quốc đã có 169 phòng xét nghiệm phát hiện SARS-CoV-2 bằng kỹ thuật
Realtime RT-PCR với công suất xét nghiệm tối đa gần 64.000 mẫu/ngày.
Trong số đó có 114 phòng xét nghiệm đủ năng lực khẳng
định nhiễm SARS-CoV-2 với công suất xét nghiệm tối đa hơn 52.000 mẫu/ngày. Từ
năm 2020 đến nay cả nước đã thực hiện xét nghiệm Realtime RT-PCR được hơn
2.600.000 mẫu cho 3.500.000 lượt người.
Ngoài sinh phẩm xét nghiệm bằng kỹ
thuật Realtime RT-PCR, nhiều loại sinh phẩm xét nghiệm nhanh kháng nguyên cũng
đã được phát triển, góp phần đa dạng hóa các kỹ thuật xét nghiệm phát hiện vi
rút SARS-CoV-2. Xét nghiệm nhanh kháng nguyên có ưu điểm thuận tiện khi sử dụng, cho kết quả nhanh trong vòng 30 phút,
có thể sử dụng ở ngoài phòng xét nghiệm, chi phí thấp hơn so với xét nghiệm
Realtime RT-PCR. Xét nghiệm nhanh kháng nguyên cho kết quả tốt nhất trong vòng
5-7 ngày kể từ ngày khởi phát triệu chứng. Một số nghiên cứu cho thấy kháng
nguyên vi rút SARS-CoV-2 có thể giảm xuống dưới
ngưỡng phát hiện sau 5 ngày khởi phát triệu chứng dẫn đến việc xét nghiệm nhanh
kháng nguyên cho kết quả âm tính trong khi các xét nghiệm có độ nhạy
cao như Realtime RT-PCR cho kết quả dương tính. Điều này có nghĩa là xét nghiệm
nhanh kháng nguyên có độ nhạy thấp hơn so với xét nghiệm Realtime RT-PCR nên có
thể cho kết quả âm tính giả. Ở cộng đồng có tỷ lệ
mắc thấp, kết quả xét nghiệm nhanh kháng nguyên dương tính cũng chưa thể xác định
tình trạng nhiễm vi rút SARS-CoV-2 mà cần được khẳng định lại bằng
xét nghiệm Realtime RT-PCR.
Tại Việt Nam hiện nay đã có một số loại
sinh phẩm xét nghiệm nhanh kháng nguyên. Để sử dụng
sinh phẩm xét nghiệm vi rút SARS-CoV-2 hiệu quả và đáp ứng
tình hình dịch, Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện xét nghiệm nhanh kháng nguyên.
II. MỤC TIÊU
- Hỗ trợ thực hiện giám sát dịch tễ đối
với một hoặc nhiều nhóm quần thể;
- Hỗ trợ trong các nghiên cứu về dịch
tễ học quần thể.
- Sử dụng hiệu quả, hợp lý các nguồn
lực xét nghiệm SARS-CoV-2.
III. NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG
1. Xét nghiệm nhanh phát hiện kháng
nguyên vi rút SARS-CoV-2 không dùng để thay thế cho xét nghiệm phát hiện vật chất
di truyền của vi rút SARS-CoV-2 (Realtime RT-PCR) mà chỉ dùng để
hỗ trợ trong việc giám sát, phát hiện, chẩn đoán mắc COVID-19.
2. Áp dụng tại các cơ sở đủ năng lực
và có thể thực hiện được xét nghiệm nhanh kháng nguyên vi rút SARS-CoV-2 theo
hướng dẫn của nhà sản xuất.
3. Các cơ sở xét nghiệm căn cứ nguồn
lực, tình hình dịch bệnh, nhu cầu xét nghiệm để triển khai
thực hiện xét nghiệm nhanh kháng nguyên trong việc giám sát
bệnh COVID-19.
4. Phòng xét nghiệm thực hiện đánh
giá các giá trị chẩn đoán (độ nhạy, độ đặc hiệu) của sinh phẩm
xét nghiệm nhanh kháng nguyên vi rút SARS-CoV-2 trước khi triển khai và chịu
trách nhiệm về chất lượng xét nghiệm.
5. Việc lấy
mẫu, thực hiện xét nghiệm tại phòng xét nghiệm hoặc các điểm giám sát lưu động
phải bảo đảm an toàn, tránh lây nhiễm cho người
và ra môi trường.
IV. NỘI DUNG
1. Sinh phẩm sử dụng xét nghiệm
- Sinh phẩm
xét nghiệm nhanh kháng nguyên đã được Bộ Y tế cho phép hoặc thuộc danh sách khẩn
cấp (EUL) của Tổ chức Y tế thế giới, FDA Hoa Kỳ
thẩm định và khuyến cáo.
- Sinh phẩm
xét nghiệm nhanh kháng nguyên đạt độ nhạy ≥ 80 % và độ
đặc hiệu ≥ 97% so với xét nghiệm Realtim RT-PCR (theo khuyến cáo của WHO) do các Viện Vệ sinh dịch
tễ, Viện Pasteur đánh giá trước khi sử dụng.
2. Mẫu bệnh phẩm
2.1. Mẫu bệnh phẩm
- Mẫu bệnh phẩm
bao gồm: Mẫu ngoáy dịch tỵ hầu; Mẫu ngoáy dịch họng; Mẫu nước bọt hoặc các loại
mẫu bệnh phẩm theo khuyến cáo của nhà sản xuất.
- Mẫu bệnh phẩm được thu thập bởi các
nhân viên đã được tập huấn về lấy mẫu bệnh phẩm.
- Căn cứ hướng dẫn của nhà sản xuất
sinh phẩm xét nghiệm nhanh kháng nguyên, cán bộ thực
hiện lấy mẫu theo hướng dẫn đảm bảo chất lượng mẫu.
2.2. Thu thập mẫu bệnh phẩm
- Chuẩn bị dụng cụ:
Theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
- Sử dụng trang phục bảo hộ cá nhân:
Tuân thủ nghiêm ngặt thao tác an toàn khi thực hành mặc, cởi
trang phục bảo hộ cá nhân theo quy định.
- Thu thập mẫu bệnh phẩm theo hướng dẫn
tại Quyết định số 3468/QĐ-BYT ngày 07/8/2020 của Bộ Y tế và các hướng
dẫn liên quan khác.
3. Thực hiện xét nghiệm
3.1 Giai đoạn có ca bệnh xâm nhập, ca bệnh
thứ phát trong cộng đồng và các ổ dịch khu trú, chưa lây lan rộng trong cộng đồng
a.
Trường hợp 1: Xét nghiệm định kỳ
- Đối tượng:
+ Nhân viên y tế, người chăm sóc,
nhân viên phục vụ (không có biểu hiện lâm sàng) tại các cơ sở cách ly có người
đang được cách ly.
+ Nhân viên y tế, người chăm sóc,
nhân viên phục vụ (không có biểu hiện lâm sàng), bệnh nhân đang điều trị nội
trú (không có biểu hiện lâm sàng, không trong quá trình điều trị COVID-19) tại
khoa cấp cứu, khoa truyền nhiễm, khoa thận nhân tạo, khoa khám bệnh của bệnh viện
tại các địa bàn có nguy cơ và bệnh viện đang điều trị bệnh nhân COVID-19.
+ Người dân ở trong ổ
dịch đã được khoanh vùng cách ly;
+ Người làm việc trong lĩnh vực thiết yếu (không có biểu hiện lâm
sàng), thường xuyên tiếp xúc với cộng đồng trong ổ dịch đã được khoanh vùng
cách ly;
- Tần suất: Định kỳ 5-7
ngày/lần.
- Phiên giải
kết quả:
+ Kết
quả xét nghiệm dương tính: thực hiện xét nghiệm lại bằng phương pháp
Realtime RT-PCR.
* Kết quả
xét nghiệm Realtime RT-PCR (+): thông báo ca dương tính.
* Kết quả
xét nghiệm Realtime RT-PCR (-): kết luận âm tính COVID-19;
+ Kết quả
xét nghiệm âm tính: Chưa có bằng chứng nhưng không loại trừ nhiễm
SARS-CoV-2, cần tiếp tục thực hiện các hoạt động theo dõi, giám sát dịch tễ
theo quy định.
+ Thực hiện việc thông tin báo cáo
theo Hướng dẫn tạm thời giám sát và phòng, chống COVID-19 ban hành kèm theo Quyết
định số 3468/QĐ-BYT ngày 07/8/2020 của Bộ Y tế.

Sơ đồ 1: Phiên
giải kết quả xét nghiệm
Lưu ý:
Trường hợp
đơn vị có thể triển khai xét nghiệm Realtime RT-PCR thì xem xét, lập kế hoạch lấy
mẫu, thực hiện xét nghiệm xen kẽ giữa kỹ thuật Realtime RT- PCR và kỹ thuật xét
nghiệm nhanh kháng nguyên; không thực hiện xét
nghiệm đồng thời bằng cả hai kỹ thuật trên cùng một đối tượng ở cùng thời điểm.
b.
Trường hợp2: Khi chưa thực hiện
được xét nghiệm Realtime RT-PCR.
- Đối tượng:
+ Người có yếu tố dịch tễ tại các khu
vực (thôn, xóm, đội/tổ dân phố/ấp/khóm/đơn vị...) có ghi nhận ca bệnh COVID-19
trong vòng 28 ngày hoặc có người tiếp xúc trực tiếp ca bệnh, nhưng chưa thể
triển khai ngay xét nghiệm Realtime RT-PCR trong thời gian ngắn.
+ Người đến khám bệnh, bệnh nhân cần
xử lý cấp cứu, phẫu thuật tại khoa cấp cứu của Bệnh viện tại
vùng nguy cơ;
- Phiên giải
kết quả:
+ Kết
quả xét nghiệm dương tính: Xử trí như
với ca xác định dương tính SARS-CoV-2 để triển khai sớm các biện pháp phòng chống
dịch COVID-19; thực hiện xét nghiệm lại bằng phương pháp Realtime RT-PCR;
* Kết quả xét nghiệm Realtime RT-PCR
(+): thông báo ca dương tính.
* Kết quả xét nghiệm Realtime RT-PCR
(-): Kết luận âm tính COVID-19;
+ Kết
quả xét nghiệm âm tính:
* Đối với người không có biểu hiện lâm
sàng theo Hướng dẫn tạm thời giám sát và phòng, chống COVID-19: Chưa có bằng chứng
nhiễm SARS-CoV-2, tiếp tục thực hiện các hoạt động theo dõi, giám sát dịch tễ
theo quy định.
* Đối với người đến khám bệnh, bệnh
nhân cần xử lý cấp cứu, phẫu thuật có biểu hiện lâm sàng: xử trí như đối với
trường hợp nghi ngờ: Đơn vị có phòng xét nghiệm phải lấy mẫu lần 2 để
thực hiện xét nghiệm bằng kỹ thuật Realtime RT-PCR.
+ Thực hiện việc thông tin báo cáo
theo Hướng dẫn tạm thời giám sát và phòng, chống COVID-19 ban hành kèm theo Quyết
định số 3468/QĐ-BYT ngày 07/8/2020 của Bộ Y tế.

Sơ đồ 2:
Phiên giải kết quả xét nghiệm nhanh kháng nguyên ở người không có biểu hiện lâm
sàng

Sơ đồ 3:
Phiên giải kết quảxét nghiệm
nhanh kháng nguyên ở người có biểu hiện lâm
sàng
3.2. Giai đoạn bệnh lây lan rộng trong cộng
đồng
a.
Trường hợp 1: Xét nghiệm định kỳ
- Đối
tượng:
+ Nhân viên y tế, người chăm sóc,
nhân viên phục vụ (không có biểu hiện lâm sàng) tại các cơ sở cách ly có người
đang được cách ly; Bệnh viện đang điều trị bệnh nhân COVID-19; khoa cấp cứu,
khoa truyền nhiễm, khoa thận nhân tạo, khoa khám bệnh của Bệnh viện tại các địa
bàn có nguy cơ.
+ Bệnh nhân đang điều trị nội trú
(không có biểu hiện lâm sàng, không trong quá trình điều trị COVID-19) tại khoa
cấp cứu, khoa truyền nhiễm, khoa thận nhân tạo của Bệnh viện điều trị bệnh nhân
COVID-19 và Bệnh viện tại các địa bàn nguy cơ.
+ Người dân ở
trong ổ dịch đã được khoanh vùng cách ly;
+ Người làm việc trong lĩnh vực thiết
yếu (bưu điện, nước, điện ...) trong ổ dịch đã được
khoanh vùng cách ly;
- Tần suất: Định kỳ 5-7
ngày/lần.
- Phiên giải
kết quả:
+ Kết quả
xét nghiệm dương tính:
* Xử trí như với ca xác định dương
tính SARS-CoV-2 để triển khai sớm các biện pháp phòng chống dịch COVID-19; thực
hiện xét nghiệm khẳng định bằng phương pháp Realtime RT-PCR;
* Kết quả
xét nghiệm Realtime RT-PCR (+): thông báo ca dương tính.
* Kết quả xét nghiệm Realtime RT-PCR
(-): Kết luận âm tính COVID-19;
+ Kết quả
xét nghiệm âm tính: Chưa có bằng chứng nhưng không loại trừ nhiễm
SARS-CoV-2, tiếp tục thực hiện các hoạt động theo dõi, giám sát như ca nghi ngờ.

Sơ đồ4: Phiên giải kết quả xét nghiệm
Lưuý:
Trường hợp
đơn vị có thể triểnkhai xét nghiệm
Realtime RT-PCR thì xem xét, lập kế hoạch lấy mẫu, thực hiện xét nghiệm xen kẽ
giữa kỹ thuật Realtime RT- PCR và kỹ thuật xét
nghiệm nhanh kháng nguyên; không triển khai xét nghiệm đồng thời bằng
cả hai kỹ thuật trên cùng một đối tượng ở cùng thời điểm.
b.
Trường hợp 2:
Khi chưa thực hiện được xét nghiệm Realtime RT-PCR.
- Đối tượng:
+ Người có yếu tố dịch tễ tại các khu
vực (thôn, xóm, đội/tổ dân phố/ấp/khóm/đơn vị...) có ghi nhận ca bệnh
COVID-19 trong vòng 28 ngày hoặc có đối tượng tiếp xúc trực tiếp ca bệnh, nhưng
chưa thể triển khai ngay xét nghiệm Realtime RT-PCR trong thời gian ngắn.
+ Người đến khám bệnh, bệnh nhân cần
xử lý cấp cứu, phẫu thuật tại khoa cấp cứu của Bệnh viện.
- Phiên giải
kết quả:
+ Kếtquả xét nghiệm dương tính:
* Xử trí như với ca xác định dương
tính SARS-CoV-2 để triển khai sớm các biện pháp phòng chống
dịch COVID-19; Nếu đủ nguồn lực, thực hiện xét nghiệm khẳng
định bằng phương pháp Realtime RT-PCR;
* Kết quả xét nghiệm Realtime RT-PCR
(+): thông báo ca dương tính.
* Kết quả xét nghiệm Realtime RT-PCR
(-): Kết luận âm tính COVID-19;
+ Kết quả
xét nghiệm âm tính:
* Đối với người không có biểu hiện
lâm sàng theo Hướng dẫn tạm thời giám sát và phòng, chống COVID-19: Chưa có bằng
chứng nhưng không loại trừ nhiễm SARS-CoV-2, tiếp tục
thực hiện các hoạt động theo dõi, giám sát dịch tễ theo quy định.
* Đối với bệnh nhân cần xử lý cấp cứu,
phẫu thuật có biểu hiện lâm sàng liên quan đến đường hô hấp: nếu cần thiết và
còn đủ nguồn lực, đơn vị có phòng xét nghiệm chủ
động sắp xếp lấy mẫu lần 2 để thực hiện xét nghiệm
bằng kỹ thuật Realtime RT-PCR và báo cáo kết quả theo quy định.
+ Thực hiện việc thông tin báo cáo
theo Hướng dẫn tạm thời giám sát và phòng, chống COVID-19 ban hành kèm theo Quyết
định số 3468/QĐ-BYT ngày 07/8/2020 của Bộ Y tế

Sơđồ 5: Phiên giải kết quả xét nghiệm ở người có yếu tố dịch tễ; bệnh nhân, người đi khám bệnh không có biểu hiện lâm sàng liên
quan đến COVID-19

Sơ đồ 6:
Phiên giải kết quả xét
nghiệm ở bệnh nhân, người đi khám bệnh có biểu hiện lâm sàng liên quan đến COVID-19
3.3. Giai đoạn chỉ phát hiện ca mắc từ nước
ngoài nhập cảnh, không có ca mắc trong cộng đồng
a.
Trường hợp 1:
Xét nghiệm định kỳ
Tương tự trường hợp xét nghiệm định kỳ
trong Giai đoạn có ca bệnh xâm nhập, ca bệnh thứ phát trong cộng đồng và các ổ
dịch khu trú, chưa lây lan rộng trong cộng đồng quy định tại Điểm a Khoản 3.1 tại
Hướng dẫn này.
b.
Trường hợp 2:
Rà soát nhanh tình hình dịch tễ COVID-19
- Đối
tượng:
+ Người trong khu cách ly.
+ Bệnh nhân (không có biểu hiện lâm
sàng) đang điều trị nội trú tại khoa cấp cứu, khoa truyền nhiễm, khoa thận nhân
tạo, khoa khám bệnh của bệnh viện.
+ Công nhân (không có biểu hiện lâm
sàng) làm việc tại khu công nghiệp tại các địa bàn có nguy cơ.
+ Những người tham dự các cuộc họp, sự
kiện đông người.
+ Người làm việc trong lĩnh vực thiết
yếu (không có biểu hiện lâm sàng), thường xuyên tiếp xúc với cộng đồng.
+ Người đến khám bệnh, bệnh nhân cần
xử lý cấp cứu, phẫu thuật tại khoa cấp cứu của bệnh viện.
- Thời gian
thực hiện:
Theo yêu cầu giám sát dịch tễ.
- Phiên giải
kết quả:
+ Kết
quả xét nghiệm dương tính: xét nghiệm lại sử dụng phương pháp Realtime
RT-PCR;
* Kết quả
xét nghiệm Realtime RT-PCR (+): thông báo ca dương tính.
* Kết quả xét nghiệm Realtime RT-PCR
(-): Kết luận âm tính COVID-19;
+ Kết
quả xét nghiệm âm tính: Kết luận tại
thời điểm lấy mẫu, xét nghiệm không có nguy cơ lây
truyền SARS-CoV-2, cần tiếp tục thực hiện các hoạt động theo dõi, giám sát dịch
tễ theo quy định.
+ Thực hiện việc thông tin báo cáo
theo Hướng dẫn tạm thời giám sát và phòng, chống COVID-19 ban hành kèm theo Quyết
định số 3468/QĐ-BYT ngày 07/8/2020 của Bộ Y tế

Sơ đồ 7: Phiên
giải kết quảxét nghiệm
IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
- Các Viện Vệ sinh dịch tễ, Viện
Pasteur chịu trách nhiệm hướng dẫn, tập huấn cho các đơn vị địa phương triển
khai lấy mẫu, xét nghiệm sử dụng sinh phẩm xét nghiệm nhanh kháng nguyên đảm bảo chất
lượng, an toàn và hiệu quả; báo cáo kết quả thực hiện cho Bộ Y tế.
- Ban Chỉ đạo phòng chống dịch COVID-19
tỉnh, thành phố căn cứ tình hình dịch tễ và
tình hình của các cơ sở xét nghiệm, khả năng đáp ứng về cơ sở vật chất, trang
thiết bị và nhân lực tại địa phương để chỉ đạo về việc xét nghiệm nhanh kháng
nguyên.
- Sở Y tế
căn cứ nhu cầu thực hiện xét nghiệm để xem xét đầu
tư phù hợp cho công tác xét nghiệm tại địa phương bảo đảm xét nghiệm COVID-19 kịp
thời và tránh lãng phí các nguồn lực; Phê duyệt kế hoạch và
chỉ đạo, giám sát việc thực hiện công tác xét nghiệm COVID-19 trên địa bàn.
- Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh,
thành phố và các phòng xét nghiệm có đủ năng lực
xét nghiệm COVID-19 sử dụng sinh phẩm xét nghiệm
nhanh kháng nguyên chịu trách nhiệm lấy mẫu hoặc nhận mẫu, thực hiện xét nghiệm
và báo cáo theo quy định.