Công văn 17554/BTC-CST Về việc xác định nghĩa vụ thuế TNDN khi xử lý tài sản bảo đảm là bất động sản để gán nợ
17554/BTC-CST
Công văn
Không xác định
25-11-2015
25-11-2015
BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM |
Số: 17554/BTC-CST | Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2015 |
Kính gửi: Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Thời gian vừa qua, Bộ Tài
chính nhận được một số kiến nghị của các tổ chức tín dụng (TCTD) về việc xác
định nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) khi
xử lý tài sản bảo đảm là bất động sản để gán nợ. Về vấn đề này, sau khi nghiên cứu, Bộ Tài chính đã có công văn số 13768/BTC-CST ngày 02/10/2015 báo cáo Thủ tướng Chính
phủ và đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý tại công văn số 8669/VPCP-KTTH ngày
22/10/2015 của Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính hướng dẫn như sau:
Điều 325 Bộ Luật Dân sự
số 33/2005/QH11 quy định thứ tự ưu tiên thanh toán: “Điều 325. Thứ tự ưu
tiên thanh toán
Thứ tự ưu tiên thanh toán
khi xử lýtài sản bảo đảm được xác định như sau:
1. Trong trường hợp giao
dịch bảo đảm được đăng kýthì việc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý
tài sản bảo đảm được xác định theo thứ tự đăng ký;
2. Trong trường hợp một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều
nghĩa vụ dân sự mà có giao dịch bảo đảm có đăng ký, cógiao dịch bảo đảm không đăng kýthì giao dịch bảo đảm có đăng kýđược ưu tiên thanh toán;
3. Trong trường hợp một
tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự mà các giao dịch bảo
đảm đều không có đăng ký thì thứ tự ưu
tiên thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập giao dịch bảo đảm”.
Điều 6 Nghị định số
163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm quy định: “Điều 6. Thứ tự ưu tiên thanh
toán
1. Thứ tự ưu tiên thanh
toán khi xử lý tài sản bảo đảm được xác định theo quy định tại Điều 325 Bộ luật Dân sự.
2. Các bên cùng nhận bảo
đảm bằng một tài sản có quyền thỏathuận về việc thay đổi thứ tự ưutiên thanh toán cho nhau. Bên
thế quyền ưu tiên thanh toán chỉ được ưu tiên thanh toán trong phạm vi bảo đảm
của bên mà mình thế quyền.
3. Trong trường hợp số
tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ đểthanh toán cho các bên nhận bảo đảm có cùng thứ tựưu tiên thanh toán thì sốtiền đó được thanh toán cho các bên theo tỷ lệ tương ứng
với giátrị nghĩa vụ được bảo đảm”.
Khoản 1, khoản 4 Điều 17
Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn căn cứ
tính thuế thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản quy
định:
“1. Thu nhập chịu thuế.
Thu nhập chịu thuế từ
chuyển nhượngbất động sản được xác
định bằng doanh thu thu được từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản trừ giávốn của bất động sản và các khoản chi phí được trừ liên
quan đến hoạt động chuyển nhượng bất động sản.
…
4. Trường hợp tổ chức tín
dụng nhận giá trị bất động sản là tài sản bảođảm tiền vay để thay thếcho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm thì tổ chức tín
dụng khi được phép chuyển nhượng bất động sản theo quy định của pháp luật phải
kê khai nộp thuếthu nhập từ hoạt độngchuyển nhượng bất động sản vào Ngân sách Nhà nước. Trường hợp bán đấu giá bất động sản là tài sản bảo đảm tiền vay thì sốtiền thu được thực hiện thanh toán theo quy định của
Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng và kê khai nộp thuế theo
quy định. Sau khi thanh toán các khoản trên, sốtiền còn lại được trảcho các tổ chức kinh doanh đã thế chấp bất động sản để
bảo đảm tiền vay.
Trường hợp tổ chức tín
dụng được phép chuyển nhượng bất động sản đã được thếchấp theo quy định của pháp luật để thu hồi vốn nếu
không xác định được giá vốn của bất động sản thì giá vốnđược xác định bằng (=) vốn vay phải trả theo hợp đồng thế chấpbất động sản cộng(+) chi phí lãi vay chưa trả đến thời điểm phát mãi bất động sản thế chấp
theo hợp đồng tín dụng cộng (+) các khoản chi phí phát sinh khi chuyển nhượng bất động sản nếu có hóa đơn, chứng từ
hợp pháp”.
Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp doanh nghiệp thế chấp tài sản bảo đảm là
bất động sản mà không có khả năng trả nợ và phải bàn giao chính tài sản bảo đảm
đó cho TCTD theo thỏa thuận để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được đảm bảo (gán nợ) mà sau
khi bàn giao tài sản, doanh nghiệp không nhận được bất kỳ khoản tiền nào từ
việc bàn giao tài sản bảo đảm và không phát sinh thu nhập thì doanh nghiệp không phải kê khai, nộp thuế TNDN đối với
việc gán nợ bằng tài sản bảo đảm. Trường hợp doanh nghiệp có phát sinh thu nhập
từ việc bàn giao tài sản bảo đảm là bất động sản để gán nợ thì doanh nghiệp phải kê khai và nộp thuế TNDN theo
quy định.
Trường hợp TCTD nhận tài
sản bảo đảm là bất động sản để giảm trừ nợ vay cho doanh nghiệp mà chưa chuyển nhượng tài sản bảo đảm thì chưa phải kê khai, nộp thuế TNDN. Khi TCTD được phép chuyển nhượng tài sản bảo đảm
là bất động sản theo quy định của pháp luật thì TCTD phải kê khai, nộp thuế
TNDN từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản vào ngân sách nhà nước theo quy định.
Bộ Tài chính thông báo để
Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được biết và
hướng dẫn đơn vị thực hiện. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, đề nghị các đơn vị phản ánh kịp thời về Bộ
Tài chính để được nghiên cứu, hướng dẫn./.
Nơi nhận: | KT. BỘ TRƯỞNG |