Xác định thời điểm phát sinh nghĩa vụ kê khai và nộp thuế GTGT

493 lượt xem

Công ty tôi ký hợp đồng với nhà thầu nước ngoài về việc cung cấp dịch vụ thiết kế vào năm 2018. Đến năm 2019, công ty tôi mới thực hiện thanh toán tiền cho nhà thầu nước ngoài. Vậy, công ty tôi sẽ kê khai và nộp thuế GTGT từ thời điểm nào?

Ban biên tập
17-06-2020

Căn cứ Thông tư số 156/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn về quản lý thuế:

+ Tại Điểm d Khoản 3 Điều 10 quy định về thời hạn nộp hồ sơ khai thuế:

“d) Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế theo từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế chậm nhất là ngày thứ 10 (mười), kể từ ngày phát sinh nghĩa vụ thuế;”

+ Tại Điểm a Khoản 3 Điều 20 quy định về khai thuế GTGT, thuế TNDN đối với Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài:

“a) Khai thuế đối với trường hợp nộp thuế GTGT tính trực tiếp trên GTGT, nộp thuế TNDN theo tỷ lệ % tính trên doanh thu là loại khai theo lần phát sinh thanh toán tiền cho nhà thầu nước ngoài và khai quyết toán khi kết thúc hợp đồng nhà thầu.

…”

Căn cứ Điều 15 Thông tư số 219/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính (đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 10 Điều 1 Thông tư 26/2015/TT-BTC và tại Điều1 Thông tư 173/2016/TT-BTC) quy định điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào:

“1. Có hóa đơn GTGT hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam.

2. Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ hai mươi triệu đồng trở lên, trừ trường hợp tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT.

Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt gồm chứng từ thanh toán qua ngân hàng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khác hướng dẫn tại khoản 3 và khoản 4 Điều này.

…”

Căn cứ Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính (đã được sửa đổi, bổ sung tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính) quy định các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN:

“1. Trừ các khoản chi không được trừ nêu tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:

a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

b) Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.

c) Khoản chi nếu có hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.

Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế GTGT.

...2. Các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế bao gồm:

...2.37. ...thuế TNDN trừ trường hợp doanh nghiệp nộp thay thuế TNDN của nhà thầu nước ngoài mà theo thỏa thuận tại hợp đồng nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài, doanh thu nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài nhận được không bao gồm thuế TNDN...”

Trường hợp công ty theo trình bày, ký hợp đồng với nhà thầu nước ngoài về việc cung cấp dịch vụ thiết kế vào năm 2018 và thực hiện thanh toán tiền cho nhà thầu nước ngoài vào năm 2019 thì thời điểm phát sinh nghĩa vụ kê khai và nộp thuế nhà thầu chậm nhất là ngày thứ 10 kể từ ngày công ty chuyển tiền cho nhà thầu nước ngoài, số thuế GTGT khấu trừ nộp thay nhà thầu nước ngoài được kê khai, khấu trừ toàn bộ, nếu có chứng từ, biên lai nộp thuế GTGT và đáp ứng điều kiện khấu trừ quy định tại Điều 15 Thông tư số 219/2013/TT-BTC. Trường hợp tại hợp đồng nhà thầu, công ty thỏa thuận doanh thu nhà thầu nước ngoài nhận được không bao gồm thuế TNDN, dịch vụ do nhà thầu cung cấp đã hoàn thành năm 2018 thì số tiền thuế TNDN nộp thay nhà thầu nước ngoài được tính vào chi phí được trừ năm 2018 khi tính thuế TNDN nếu đáp ứng các điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC.

Lưu ý : Việc đưa ra ý kiến tư vấn của Trogiupluat căn cứ vào các quy định của pháp luật tại thời điểm tư vấn và chỉ mang tính chất tham khảo. Khi tham khảo, người dùng cần kiểm tra lại quy định của pháp luật hiện hành để đảm bảo tính chính xác.

Bình luận