Thuế TTĐB đối với cơ sở kinh doanh mua rượu trong nước để xuất khẩu nhưng không xuất khẩu mà tiêu thụ trong nước

716 lượt xem

Công ty tôi là doanh nghiệp kinh doanh rượu với hoạt động kinh doanh chính là nhập khẩu rượu từ Châu Âu (Chivas, Cognac, vang Pháp, Ý…), Châu Mỹ (Jach Daniels) về bán lại trong nước và mua rượu của một số công ty trong nước bán ra nước ngoài (chủ yếu là Nhật Bản và Trung Quốc).

Tháng 05/2018, doanh nghiệp tôi mua 1.000 chai rượu đế Gò Đen từ CTCP Rượu Đệ Nhất Gò Đen để xuất khẩu sang Trung Quốc. Tuy nhiên, sau khi mua lượng rượu trên, đối tác của công ty chúng tôi ở Trung Quốc bị lâm vào tình trạng phá sản nên lô rượu này công ty tôi không xuất khẩu mà bán cho thị trường trong nước. Cơ quan quản lý thuế nơi công ty tôi đóng trụ sở chính đã yêu cầu công ty tôi phải kê khai nộp thuế tiêu thụ đặc biệt cho lô hàng trên. Tuy nhiên, theo quan điểm của công ty, chúng tôi cho rằng Điều 4 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 đã quy định rất rõ là: “Người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt là tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa và kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt”. Mà rõ ràng, công ty tôi chỉ là người mua rượu để bán chứ không phải là người sản xuất rượu hay nhập khẩu rượu thì tại sao Cơ quan quản lý thuế bắt chúng tôi phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt? Nếu trong trường hợp công ty tôi phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt thì giá tính thuế trong trường hợp này sẽ xác định như thế nào?

Ban biên tập
18-06-2020

 

- Việc công ty bị buộc nộp thuế tiêu thụ đặc biệt là đúng hay sai?

Về nguyên tắc, theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 2 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 thì rượu là một trong các hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Do vậy, theo quy định tại Điều 4 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 thì: “Người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt là tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa và kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt”. Cho nên, thông thường CTCP Rượu Đệ Nhất Gò Đen sẽ kê khai và nộp thuế tiêu thụ đặc biệt khi bán rượu cho công ty của bạn. Lúc này công ty bạn bán trong nước thì không phải kê khai, nộp thuế tiêu thụ đặc biệt nữa vì bản chất thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ thu thuế một lần trong suốt quá trình lưu thông của hàng hóa. Tuy nhiên, khi công ty bạn mua là để xuất khẩu rượu sang Trung Quốc nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 3 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 thì “Hàng hóa do cơ sở sản xuất, gia công trực tiếp xuất khẩu hoặc bán, ủy thác cho cơ sở kinh doanh khác để xuất khẩu” sẽ thuộc diện không chịu thuế tiêu thụ đặc biệt nên CTCP Rượu Đệ Nhất Gò Đen bán 1.000 chai rượu cho công ty bạn để xuất khẩu thì CTCP Rượu Đệ Nhất Gò Đen không phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt cho lô rượu này. Sau đó, công ty bạn không xuất khẩu lại bán ở thị trường trong nước thì rượu này phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Và đồng thời tại Đoạn 2 Điều 4 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt cũng có quy định rằng: “Trường hợp tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh xuất khẩu mua hàng hóa thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt của cơ sở sản xuất để xuất khẩu nhưng không xuất khẩu mà tiêu thụ trong nước thì tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh xuất khẩu là người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt”. Vì vậy, cơ quan quản lý thuế yêu cầu công ty bạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt cho lô rượu này là hoàn toàn chính xác.

- Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt trong trường hợp này xác định như thế nào?

Trong trường hợp này, công ty bạn phải kê khai và nộp thuế tiêu thụ đặc biệt với giá tính thuế được xác định theo quy định tại Khoản 8 Điều 5 Thông tư số 195/2015/TT-BTC ngày 24 tháng 11 năm 2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 108/2015/NĐ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt như sau:

“Đối với cơ sở kinh doanh xuất khẩu mua hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt của cơ sở sản xuất để xuất khẩu nhưng không xuất khẩu mà bán trong nước thì giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt trong trường hợp này là giá bán chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường (nếu có) và chưa có thuế giá trị gia tăng được xác định cụ thể như sau:

Trường hợp cơ sở kinh doanh xuất khẩu kê khai giá bán (đã có thuế giá trị gia tăng, thuế bảo vệ môi trường (nếu có) và thuế tiêu thụ đặc biệt) làm căn cứ xác định giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt thấp hơn 7% so với giá bán trên thị trường thì giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá do cơ quan thuế ấn định theo quy định của Luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành”.

Lưu ý : Việc đưa ra ý kiến tư vấn của Trogiupluat căn cứ vào các quy định của pháp luật tại thời điểm tư vấn và chỉ mang tính chất tham khảo. Khi tham khảo, người dùng cần kiểm tra lại quy định của pháp luật hiện hành để đảm bảo tính chính xác.

Bình luận