Quy định về tài sản góp vốn

364 lượt xem
Các tổ chức, cá nhân có thể góp vốn bằng loại tài sản nào?
Ban biên tập
29-06-2020

Theo quy định tại Điều 35 của Luật Doanh nghiệp năm 2014, tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam. Như vậy, bên cạnh liệt kê các tài sản góp vốn phổ biến, Luật Doanh nghiệp còn cho phép tổ chức, cá nhân có thể góp vốn bằng bất kỳ loại tài sản nào, miễn sao có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam. Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra những thách thức trong việc định giá tài sản góp vốn, đặc biệt là những tài sản mang tính “vô hình” như giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật.[1]

Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ. Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn.

Với việc đa dạng hóa các loại tài sản góp vốn, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã tạo cơ hội cho nhà đầu tư có thể linh hoạt trong việc lựa chọn loại tài sản phù hợp để góp vốn vào doanh nghiệp.

 

 


[1] Điều 37 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì chủ thể liên quan phải cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế. 

Lưu ý : Việc đưa ra ý kiến tư vấn của Trogiupluat căn cứ vào các quy định của pháp luật tại thời điểm tư vấn và chỉ mang tính chất tham khảo. Khi tham khảo, người dùng cần kiểm tra lại quy định của pháp luật hiện hành để đảm bảo tính chính xác.

Bình luận